Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc báo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

Những “quả bom” hiểm họa


Giống như một “quả bom” phát nổ khi con số 4.300 người chết mỗi năm do bị tác động bởi nhiệt điện than ở Việt Nam.

Nhưng 4.300 chưa phải là con số cuối cùng, bởi nếu các dự án nhiệt điện than đang trong quy hoạch đều được đưa vào vận hành thì con số 4.300 của hiện tại sẽ thành 25.000 người chết mỗi năm ở tương lai.

http://laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/nhung-qua-bom-hiem-hoa-381955.bld

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Giá trị của bộ sách Nhìn Lại Sử Việt


Giá trị của bộ sách Nhìn Lại Sử Việt

Cập nhật: 13:57 GMT - thứ hai, 12 tháng 11, 2012

Tôi không phải sử gia -- chuyên môn của tôi là khoa học chính trị. Nhưng với tư cách một độc giả và cũng là nhà nghiên cứu, tôi cho rằng Nhìn Lại Sử Việt (NLSV) là một công trình hết sức giá trị, và TS Lê Mạnh Hùng xứng đáng nhận được sự biết ơn của tất cả người Việt Nam chúng ta, kể cả trong và ngoài nước.
Tại sao tôi nói công trình này có giá trị? Trong khi đọc NLSV, tôi không thể không liên tưởng đến bộ Việt Nam Sử Lược (VNSL) của học giả Trần Trọng Kim -- bộ thông sử Việt Nam đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Tôi được may mắn đọc VNSL từ khi còn nhỏ, và tôi đã học được rất nhiều từ bộ sách đó. Tôi nghĩ không ai trong chúng ta phủ nhận giá trị vượt thời gian của VNSL.
Có lẽ Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông của TS Nguyễn Ngọc Bích cũng nghĩ như tôi, nên đằng sau bìa sách NLSV đã ngầm so sánh nó với VNSL. Tôi xin trích lời giới thiệu ở bìa sau NLSV:
Sử gia Trần Trọng Kim xem bộ VNSL của ông mới chỉ tương đương với bộ áo vải để mặc tạm chờ một bộ áo lụa do những sử gia đến sau với đầy đủ phương tiện và tài liệu hơn hoàn tất.
Rất tiếc lời giới thiệu rất hay của TS Nguyễn Ngọc Bích bị hiểu lầm. Trong tập 3 của NLSV mới xuất bản, ở trang 12, tôi đọc thấy lời cải chính như sau:
Sau khi hai tập đầu của bộ sử này được công bố, tác giả Lê Mạnh Hùng đã bị phê phán là ngạo mạn khi dám so bộ NLSV của ông như một bộ áo lụa bên cạnh bộ VNSL của sử gia Trần Trọng Kim (mà chính cụ mô tả mới chỉ như một bộ áo vải "để mặc tạm"). Để giải tỏa ngộ nhận này, Nhà Xuất Bản chúng tôi xin minh xác: mấy lời ghi nơi bìa sau hai tập kia không phải là lời của tác giả Lê Mạnh Hùng mà chỉ là một lời quảng cáo của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ. Và chúng tôi cũng không dám khẳng định bộ sử NLSV là "áo lụa" mà chỉ xin nhắc lại một ước vọng của học giả họ Trần sau khi cụ hoàn tất bộ sử nổi tiếng của cụ...
Tôi hiểu Nhà Xuất Bản cải chính vì không muốn TS Lê Mạnh Hùng bị mang tiếng ngạo mạn. Nhưng tôi nghĩ rằng việc so sánh bộ sách của TS Lê Mạnh Hùng với bộ VNSL của học giả Trần Trọng Kim là hợp lý và cần làm.
Trong bài viết này, tôi sẽ chủ yếu làm công việc so sánh đó. Nhưng trước khi đưa ra bằng chứng cho các lập luận của tôi, tôi xin khẳng định rằng: theo ý tôi, học giả Trần Trọng Kim quá khiêm tốn. Bộ sách của ông không phải là "bộ áo vải" mộc mạc mà thực sự là một bộ áo lụa lộng lẫy vào thời điểm nó ra đời.
Tuy nhiên, dù là áo lụa, do mặc đã lâu nên vải đã sờn và màu đã phai. Bộ sách của TS Lê Mạnh Hùng cũng là một bộ áo lụa lộng lẫy không kém VNSL, nhưng do sinh sau gần một thế kỷ nên kỹ thuật tiến bộ hơn, màu sắc tinh xảo hơn, và chất lượng vải cũng tốt hơn.
Tài liệu phong phú
Đó là ý kiến của tôi, rút ra từ việc so sánh đối chiếu tập 3 của NLSV với tập 2 của VNSL. Sau đây tôi xin nêu ra những lý lẽ và dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho quan điểm của tôi.
Trước hết, NLSV sử dụng tài liệu phong phú hơn VNSL rất nhiều -- đặc biệt là các tài liệu gốc lưu trữ ở nước ngoài và các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam xuất bản trong nửa thế kỷ trở lại đây ở Việt Nam và trên thế giới. NLSV hơn VNSL ở điểm này cũng là điều dễ hiểu, vì những tài liệu trên chỉ được công bố hay chỉ có thể tiếp cận sau khi VNSL ra đời. Nhưng những tài liệu này chính là lý do tại sao NLSV có thể vượt trên VNSL với nhiều chi tiết phong phú hơn và cách kiến giải sâu sắc hơn về các biến cố lịch sử.
"NLSV sử dụng tài liệu phong phú hơn VNSL rất nhiều -- đặc biệt là các tài liệu gốc lưu trữ ở nước ngoài và các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam xuất bản trong nửa thế kỷ trở lại đây ở Việt Nam và trên thế giới. NLSV hơn VNSL ở điểm này cũng là điều dễ hiểu, vì những tài liệu trên chỉ được công bố hay chỉ có thể tiếp cận sau khi VNSL ra đời. Nhưng những tài liệu này chính là lý do tại sao NLSV có thể vượt trên VNSL với nhiều chi tiết phong phú hơn và cách kiến giải sâu sắc hơn về các biến cố lịch sử."
Thứ hai, NLSV không giảng đạo đức và có thái độ phán xét khoa học hơn đối với một số nhân vật lịch sử có vấn đề. Một ví dụ là trường hợp Mạc Đăng Dung. Chúng ta biết Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, rồi bị nhà Minh bên Tàu đe dọa xâm lược nên vua tôi tự trói mình ra cửa Nam Quan xin hàng. Kể đến đoạn này, học giả Trần Trọng Kim bình luận (tr. 17):
Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là môt người không biết liêm sỉ.
Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người, là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được.
Mặc dù những lời nhận xét của học giả Trần có nhiều điểm có lý, ông nên để cho độc giả tự rút ra bài học thay vì giảng đạo đức cho họ. Nếu chúng ta xem lịch sử là một khoa học, thì nhà làm sử phải cố gắng giữ sự khách quan khi phán xét và tránh áp đặt quan điểm của mình lên người đọc.
VNSL đáng khen vì đánh giá Nguyễn Huệ rất công bằng, nhưng không làm được điều đó với Mạc Đăng Dung. Nhà Lê đổ đốn là do vua Lê Uy Mục và Lê Tương Dực hoang dâm tàn bạo. Vua không đáng là vua sao có thể đòi thần dân kính trọng? Nếu Mạc Đăng Dung không cướp ngôi thì người khác cũng sẽ cướp ngôi. Trong NLSV, TS Lê Mạnh Hùng không đánh giá Mạc Đăng Dung như vậy. Tôi cho rằng đây là một điểm rất tiến bộ về quan điểm và phương pháp làm sử của NLSV.
Nguyễn Ánh - Tây Sơn
Thứ ba, NLSV có những phần phân tích kiến giải rất sâu sắc không có trong VNSL. Một ví dụ là chương 20 phân tích lý do Nguyễn Ánh chiến thắng nhà Tây Sơn. Chúng ta biết anh em nhà Tây Sơn nổi lên ở Bình Định và sau một thời gian đã lật đổ cả chúa Nguyễn ở đàng Trong lẫn chúa Trịnh ở đàng Ngoài. Nhưng nhà Tây sơn tồn tại chỉ được một thời gian ngắn thì bị Nguyễn Ánh là dòng dõi của chúa Nguyễn đánh bại. Tại sao? Do đối chiếu nhiều nguồn tài liệu, TS Lê Mạnh Hùng cho ta thấy người Âu châu không đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng của Nguyễn Ánh. Việc vua Quang Trung chết sớm cũng không phải lý do độc nhất giải thích thất bại của nhà Tây sơn. Còn hai lý do nữa, theo TS Lê Mạnh Hùng: thứ nhất là sự phân hóa giữa anh em nhà Tây Sơn, thứ hai là do họ coi thường tầm quan trọng của đất Gia định. Trong khi đó, Nguyễn Ánh có những chính sách được lòng dân Gia định, giúp cho ông ta chiến thắng.
"Học giả Trần Trọng Kim viết khá sơ sài về việc Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với người Âu châu, và ông cũng nhấn mạnh các va chạm và xung đột, đặc biệt là việc cấm đạo của các chúa. TS Lê Mạnh Hùng trong NLSV do có nhiều tài liệu mới nên có thể viết về mối quan hệ giữa Việt Nam với người Âu châu sâu sắc và chính xác hơn trong tất cả sự phức tạp của nó. "
Thứ tư, học giả Trần Trọng Kim coi những phong trào nông dân vào thế kỷ 18 dưới thời chúa Trịnh là "giặc". Chúng ta hãy nghe ông tả nhân vật Nguyễn Hữu Cầu, một trong những thủ lĩnh nông dân nổi bật nhất vào thời đó (tr. 64-65):
Nguyễn Hữu Cầu tục gọi Quận He, người Hải dương, trước đi ăn cướp, sau theo Nguyễn Cừ làm giặc.... Nguyễn Hữu Cầu là một người kiệt hiệt nhất trong bọn làm giặc thời bấy giờ, mà lại quỷ quyệt, ra vào bất trắc lắm: có khi bị vây hàng mấy vòng, mà chỉ một mình một ngựa phá vây ra, rồi chỉ trong mấy ngày lại có hàng vạn người đi theo. Vì rằng ngày thường cướp được thóc gạo của thuyền buôn, đem cho dân nghèo, cho nên đi đến đâu cũng có người theo...
Các tướng sĩ ai cũng sợ, duy chỉ có ông Phạm Đình Trọng là đánh được Hữu Cầu mà thôi, cho nên Hữu Cầu đào mả mẹ ông ấy đổ xuông sông. Từ đó Phạm Đình Trọng thề không cùng sống ở đời với Nguyễn Hữu Cầu.
Còn đây là đoạn trong sách NLSV nói về Nguyễn Hữu Cầu:
Nguyễn Hữu Cầu ... có thể nói là một lãnh tụ kiệt xuất của phong trào đấu tranh khởi nghĩa thời đó. Cầu ... xuất thân từ gia đình nghèo nhưng không nghèo lắm vì lúc bé Cầu đã từng đi học và đã từng là bạn học của Phạm Đình Trọng, một trong những tướng giỏi của họ Trịnh. Năm 1739 Cầu tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, trở thành một tướng lãnh dưới trướng Nguyễn Cừ và được Cừ gả con gái cho... (tr. 221).
Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu vốn là hai bạn học từ thưở nhỏ nhưng về sau lại đi theo hai chí hướng đối lập và trở thành hai kẻ thù không đội trời chung. Trọng nhiều lần đánh bại Cầu và bị Cầu đào mộ mẹ đổ xuống sông. Theo truyền thuyết, Cầu và Trọng đã chống đối nhau ngay khi còn là học trò. Một hôm trong lúc còn đi học, ông thầy ra câu đối: "Mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo," thì Trọng đối ngay là "Tháng Giêng rét dài, tháng Hai rét lộc." Còn Cầu lại đối là "Tháng Mười sấm rạp, tháng Chạp sấm động." Nghe xong ông thầy nói thằng Trọng có khẩu khí làm quan to, còn thằng Cầu chỉ có làm giặc, và có ý không dám dạy Cầu nữa. Khi học trò ra chơi, Trọng bảo Cầu rằng, "Mày làm giặc tao sẽ cầm quân tiêu diệt mày." Cầu đáp, "Nếu tao làm giặc, tao sẽ đánh tan những đứa ra luồn vào cúi." (tr. 223)
Qua hai đoạn trích trên, chúng ta có thể thấy TS Lê Mạnh Hùng không những cho biết thêm nhiều truyền thuyết thú vị về con người Nguyễn Hữu Cầu mà còn có cách nhìn ít định kiến về người thủ lĩnh nông dân này. Cách viết của TS Lê Mạnh Hùng thể hiện quan điểm hiện đại của sử gia: sử gia không đứng về phía vua chúa hay tầng lớp thống trị, mà thiên về đám đông dân chúng. Vua chúa có thế nào dân chúng mới phải "làm loạn". TS Lê Mạnh Hùng gọi phong trào nông dân là những cuộc khởi nghĩa, cho thấy ông tin rằng Nguyễn Hữu Cầu và cộng sự có những lý do chính đáng để nổi dậy chống lại chúa Trịnh.
Một ví dụ cuối cùng là vấn đề Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam. Học giả Trần Trọng Kim viết khá sơ sài về việc Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với người Âu châu, và ông cũng nhấn mạnh các va chạm và xung đột, đặc biệt là việc cấm đạo của các chúa. TS Lê Mạnh Hùng trong NLSV do có nhiều tài liệu mới nên có thể viết về mối quan hệ giữa Việt Nam với người Âu châu sâu sắc và chính xác hơn trong tất cả sự phức tạp của nó. Thực ra đạo Thiên Chúa cũng có rất đông người theo, kể cả trong giới quý tộc, và chính sách của chúa Nguyễn và chúa Trịnh không phải chỉ có cấm.
Dưới đây là ba đoạn trích trong NLSV:
Sự thành công trong việc truyền giáo tại Đàng Trong đã khuyến khích các giáo sĩ Dòng Tên mở rộng tầm hoạt động của họ ra miền Bắc. Năm 1626, cha Giuliani Baldinotti được cử ra Đàng Ngoài. Cha Baldinotti được Trịnh Tráng đón tiếp nồng hậu và ở lại Đàng Ngoài bảy tháng. (tr. 207)
Mặc dù những người theo đạo đầu tiên có thể là những người nghèo khổ, ...nhưng theo nghiên cứu của Cadiere được dẫn trong cuốn Lịch sử Đạo Thiên chúa tại Việt Nam ... xuất bản năm 1941, thì trong số những người đầu tiên được rửa tội theo đạo Thiên chúa cũng có rất nhiều người thuộc giới quyền quý tỉ như ngoài Bắc có Đỗ Viên Mãn làm quan đến chức Phụ Quốc Thượng tướng quân Tiết chế Nam quan Đô đốc Kỳ quận công; còn trong Nam có bà Minh Đức Vương Thái phi vợ chúa Sãi ... (tr. 209)
"Dĩ nhiên NLSV không phải đã hoàn thiện, không phải không có thiếu sót. Nhưng tôi tin rằng NLSV xứng đáng được xem là một bộ áo lụa công phu và lộng lẫy."
Các chúa Trịnh và Nguyễn sở dĩ đón tiếp nồng nhiệt các nhà truyền giáo là vì họ hy vọng kéo được sự giúp đỡ của các giáo sĩ này trong cuộc nội chiến của họ. Nhưng khi thấy rằng việc mở cửa cho các giáo sĩ đã không giúp gì hơn cho mưu đồ của họ, các chúa cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài bắt đầu chính sách cấm đạo. Tuy nhiên chính sách này không thể hiện một cách nghiêm ngặt mà thay đổi tùy theo sự hợp tác của các giáo sĩ với nhu cầu vũ khí và quân sự của các chúa. (tr. 210)
NLSV cũng dành một trang nói về việc truyền bá chữ quốc ngữ đến Việt Nam. Đây là một yếu tố tích cực trong qua trình Việt Nam tiếp xúc với văn minh Âu châu. VNSL, trái lại, không nói gì về sự kiện này.
Tóm lại, với những ví dụ trên, tôi hy vọng chúng ta có thể nói NLSV là một tác phẩm có giá trị vượt lên VNSL -- nhờ đưa vào nhiều tài liệu mới và áp dụng quan điểm sử học hiện đại. Dĩ nhiên NLSV không phải đã hoàn thiện, không phải không có thiếu sót. Nhưng tôi tin rằng NLSV xứng đáng được xem là một bộ áo lụa công phu và lộng lẫy.
Một câu hỏi cuối: liệu "bộ áo lụa" NLSV có "bền" bằng "bộ áo lụa" VNSL không? Chúng ta biết rằng VNSL vẫn còn được sử dụng hơn nửa thế kỷ sau khi ra đời. Liệu NLSV có "sống dai" như thế không? Thú thực tôi không biết câu trả lời cho câu hỏi này, chỉ xin chúc tác giả của nó may mắn!
Tiến sĩ Tường Vũ giới thiệu bộ sách Nhìn Lại Sử Việt (vừa được Tổ Hợp Xuất bản miền Đông Hoa Kỳ ấn hành tập ba, 2012) của tác giả Lê Mạnh Hùng (có bằng tiến sĩ lịch sử của trường LSE, London).

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

giấc mộng vàng




Việt Nam nói lời chia tay Olympic 2012 với thành tích 1 giờ 33 phút 36 giây của Nguyễn Thị Thanh Phúc ở môn đi bộ 20 km.
Mặc dù Thanh Phúc đã phá kỷ lục quốc gia, cô vẫn chỉ đứng thứ 36 tại Olympic và thành tích của người về nhất, vận động viên người Nga Elena Lashmanova là 1h 25 phút 02 giây.

Với kết quả thi đấu cuối cùng này, 18 vận động viên Việt Nam tham gia thi đấu tại mười một bộ môn đã không thể mang về bất kỳ tấm huy chương nào, giấc mơ vàng của Việt Nam lại phải chờ thêm bốn năm nữa.

Niềm hy vọng lớn nhất của Việt Nam, vận động viên cử tạ Trần Lê Quốc Toàn, kém người đoạt huy chương đồng hai điểm.

Có lẽ đáng tiếc nhất là trường hợp của xạ thủ Hoàng Xuân Vinh, người về thứ tư trong nội dung súng ngắn 50 mét nam chỉ kém vận động viên đoạt huy chương đồng người Trung Quốc có 0,1 điểm.

Hai niềm hy vọng le lói vào cầu lông và taekwondo cuối cùng đành chấp nhận dừng bước ở ngay vòng đấu đầu tiên.

'Nhỏ và nhẹ'?

Có nhiều lý do khiến Việt Nam rời London tay trắng cho dù trước đó đã có huy chương bạc đầu tiên với Taekwondo ở Sydney năm 2000 và một huy chương bạc nữa của cử tạ ở Bắc Kinh năm 2008.

Đây cũng không phải là điều bất ngờ vì các quan chức thể thao Việt Nam cũng chỉ xác định họ tới London để "tiếp cận thành tích thế giới" cho dù lần này số vận động viên tham gia là nhiều nhất từ trước tới nay.
Một quan chức thể thao cao cấp của Việt Nam có ý nói người Việt Nam "nhỏ và nhẹ" cân nên khó đoạt huy chương.

Nhưng vận động viên người Đức gốc Việt Marcel Nguyễn, chủ nhân của hai chiếc huy chương bạc môn thể dục dụng cụ, cũng chỉ cao 1m67.
Một mình anh đã sở hữu số huy chương Olympic bằng cả quốc gia đứng trong danh sách 15 nước đông dân nhất thế giới.
Câu chuyện thành công của Marcel Nguyễn, ngoài nỗ lực cá nhân và đôi chút may mắn, có liên quan tới truyền thống thể thao trong gia đình, nhà trường và xã hội nói chung.
Nó cũng nói về một thái độ nghiêm túc và đúng đắn trong đầu tư cho thể thao đỉnh cao.

Một ví dụ khác là người đoạt huy chương đồng môn vật 31 tuổi Carol Huỳnh, người Canada có mẹ sinh ra ở Việt Nam.
Cô đã hạ vận động viên vật Nguyễn Thị Lụa của Việt Nam trong trận ra quân đầu tiên ở hạng 48 kg.
Nguyễn Thị Lụa cao 1m55, có phần nhỉnh hơn chút xíu so với Carol Huỳnh với chiều cao 1m54.
Carol Huỳnh thậm chí đã đoạt huy chương vàng ở Olympic 2008.

Thêm một ví dụ nữa trong môn thi đấu cuối cùng của Việt Nam: đi bộ 20 km.
Nguyễn Thị Thanh Phúc của Việt Nam cao 1m54, nặng 45 kg về thứ 36.
Cách cô 30 bậc, ở hạng thứ 6 là một vận động viên Trung Quốc cao 1m56 và nặng 45 kg.

Ba ví dụ này cho thấy lý do "nhỏ và nhẹ" mà quan chức Việt Nam đưa ra để giải thích chuyện Việt Nam không có huy chương là chưa hợp lý.

'Không đâu như Việt Nam'

Người ta cũng có thể đưa ra lý do kinh tế nhưng nó cũng không hoàn toàn thuyết phục với Cuba đứng thứ 15 với 14 huy chương trong đó có năm huy chương vàng, và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đứng thứ 20 với sáu huy chương, trong đó có bốn huy chương vàng.
Cả hai quốc gia này đều được Việt Nam trợ giúp lương thực.

Trong khối kinh tế đang trỗi dậy mà tiếng Anh gọi là BRIC - Brazil, Russia (Nga), India (Ấn Độ) và China (Trung Quốc), Trung Quốc đứng thứ hai, Nga thứ tư, Brazil - chủ nhà của Olympic 2016 - thứ 22 còn Ấn Độ với dân số hơn một tỷ không lọt được vào danh sách 50 nước có huy chương vàng.

Trong 10 nước Asean, năm nay chỉ có hai nước được huy chương Olympic - Indonesia được hai bạc và bốn đồng ở các môn cầu lông, bắn súng, vật và quyền Anh, Thái Lan được hai huy chương bạc ở hai môn cử tạ và quyền Anh và một đồng cho Taekwondo.

Riêng Việt Nam, một quan chức từng phụ trách thể thao thành tích cao của Việt Nam nói thành tích của Việt Nam ở Olympic 2012 "phản ánh đúng quá trình chuẩn bị và trình độ của thể thao Việt Nam".

Ông Nguyễn Hồng Minh, người cũng từng là trưởng đoàn thể thao Việt Nam ở Olympic, nói thêm:
"Anh Lâm Quang Thành [trưởng đoàn thể thao Việt Nam ở Olympic London] có phát biểu rằng ngành thể thao đã làm tất cả những gì có thể cho các vận động viên dự Olympic, như thế là không đúng."
"Anh Lâm Quang Thành [trưởng đoàn thể thao Việt Nam ở Olympic London] có phát biểu rằng ngành thể thao đã làm tất cả những gì có thể cho các vận động viên dự Olympic, như thế là không đúng.
"Nếu làm tất cả những gì có thể thì anh không để Phan Thị Hà Thanh bốn tháng không có thầy, anh không để Ngân Thương hay Nguyễn Thị Lụa không được chữa trị chấn thương, hay không chuẩn bị sớm cho Trần Lê Quốc Toàn, các vận động viên giỏi khác như Lê Huỳnh Châu đi đến những nơi tốt và không tập trung tiền của cho những vận động viên xác định rõ sẽ giành huy chương Olympic, sẽ không để các vận động viên được đầu tư chuẩn bị đi Olympic ăn, ở như điều kiện bình thường giống các vận động viên khác, không có chế độ dinh dưỡng đặc biệt.
"Như thế đâu phải là đã làm tất cả những gì có thể được."

Phát biểu của ông Hồng Minh ở tầm vĩ mô cũng được vận động viên đoạt huy chương vàng Judo người Brazil, Sarah Menezes, xác nhận ở tầm vi mô.

Cô Menezes, người hạ Văn Ngọc Tú của Việt Nam trong trận đầu tiên, nói cô đã được tái sinh nhờ công của huấn luyện viên và người hướng dẫn cô tập thể lực.

Trong thể thao, kỹ thuật là quan trọng nhưng có đủ thể lực và chí khí để thực hiện các động tác kỹ thuật cũng quan trọng không kém.
Và những màn thể hiện của các vận động viên Việt Nam cho thấy đa số họ chưa được chuẩn bị kỹ càng ở cả ba khía cạnh này.

nguồn: BBCVietnamese (Nguyễn Hùng)





Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

bốc hơi, hì hì



Thứ Bảy, 02/06/2012, 07:39 (GMT+7)
Ba dự án biến đổi khí hậu bị Đan Mạch tạm dừng tài trợ:
6 tháng, bốc hơi 11,5 tỉ đồng
TT - Ngày 1-6, Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội phát đi thông cáo báo chí cho biết đã tạm dừng hoạt động ba trong bốn dự án VN nhận viện trợ không hoàn lại của nước này để tiếp tục làm rõ. Số tiền bị sử dụng không hợp lý có thể lên tới 3,3 triệu kroner (khoảng 11,5 tỉ đồng).
>> Đan Mạch ngưng tài trợ 3 dự án tại Việt Nam


Chi tiết khoản tiền bốc hơi được công khai trên website của Bộ Ngoại giao Đan Mạch
Những phát hiện này sẽ được hai chính phủ và các cơ quan thực thi đánh giá kỹ lưỡng trước khi có kết luận cuối cùng.

Trả 1 tỉ đồng cho hai nhân viên kiểm tra tài liệu

Bộ Ngoại giao Đan Mạch cũng đã công khai báo cáo về ba dự án này trên website của mình. Trong báo cáo, tư vấn trưởng của Cơ quan Đảm bảo chất lượng viện trợ phát triển Đan Mạch Tine Lunn cho biết Hãng tư vấn độc lập PriceWaterhouseCoopers (PWC) đã kiểm tra báo cáo tài chính của bốn dự án.

Báo cáo nhấn mạnh những phát hiện cần phải kiểm tra thêm, nhưng có những khoản đã bị chi sai mục đích, hoặc chi phí cao hơn giá thực tế, thậm chí là không hề có thực chi. Dự án “Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng” (đối tác phía VN là Trung tâm quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu (ICARGC) thuộc ĐHQG Hà Nội), các khoản sai trái lên tới 4,4 tỉ đồng.

Trong đó có những khoản chi lương và thù lao không có chứng từ, hơn 1 tỉ đồng được trả cho hai hợp đồng với nhân viên nghiên cứu của dự án chỉ để kiểm tra lại tài liệu, thu thập và xử lý dữ liệu; gần 270 triệu đồng được ghi sổ sách nhưng không hề có thực chi; gần 180 triệu đồng được ghi là trả cho một tư vấn viên nhưng không có thực chi và tư vấn viên này đã xác nhận là công việc này bị hủy trên thực tế; khoảng 1,1 tỉ đồng là thâm hụt tiền mặt so với cân đối sổ tiền mặt - dự án giải thích là khoản tiền này được tạm thời sử dụng cho mục đích của các dự án khác...

Ngoài ra, PWC cũng lưu ý là 250.000 kroner (khoảng 857 triệu đồng) đã được tạm ứng cho bốn nhân viên mà không có mục đích rõ ràng và các khoản ứng này đã được quyết toán sau một năm.

Ăn lương hai đầu

Với dự án “Đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu đến điều kiện tự nhiên, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội ở Trung Trung bộ VN” do Viện địa lý thuộc Viện Khoa học - công nghệ VN thực hiện, hơn 5,3 tỉ đồng đã bị chi sai. Trong đó gần 500 triệu đồng là tiền lương và thù lao bao gồm các khoản bồi dưỡng, lương gấp đôi cho nhân viên dự án (nhân viên hưởng lương của cả viện lẫn dự án), hơn 1,4 tỉ đồng cho các khoản học bổng giáo dục nhưng không có quy trình lựa chọn rõ ràng, khoảng 615 triệu đồng để mua ôtô sử dụng cho dự án.

Mặc dù ngân sách này được thông qua từ đầu, nhưng không có mục sổ sách nào nói đến tài xế. Trong khi một tài xế của viện xác nhận xe này rất ít dùng vì các chuyến thực địa xảy ra ở miền Trung VN và các nghiên cứu viên thường sử dụng máy bay; PWC còn quan sát thấy Viện địa lý đã chuyển một khoản tiền của dự án qua ngân hàng và giải thích là viện tạm thời mượn tiền mặt từ dự án và đã trả lại.

Tài trợ học bổng cho con gái của cán bộ dự án

Với dự án “Biến đổi khí hậu và các hệ sinh thái vùng cửa sông của VN” - đối tác VN là Viện Hải dương học thuộc Viện Khoa học - công nghệ VN, tổng cộng khoảng 1,3 tỉ đồng đã bị chi sai. Trong đó, khoảng 36 triệu đồng được trả trực tiếp cho nhân viên để trang trải bảo hiểm xã hội, y tế và thất nghiệp trong khi các khoản này cũng được viện trả; hơn 845 triệu đồng là học bổng thưởng cho con gái của điều phối viên dự án, do giám đốc dự án phê duyệt mà không qua quá trình lựa chọn ứng cử viên. Cô con gái này đã làm việc ở viện được ba năm trước khi có học bổng trên nhưng gần đây đã rời viện sau khi hoàn tất học bổng. Viện cũng chi hơn 173 triệu đồng để mua máy tính xách tay cho các nghiên cứu sinh nhưng không hề bắt buộc trả lại máy sau khi dùng.

Cuối cùng, với dự án “Tạo giống lúa chịu ngập chìm và mặn thích nghi với điều kiện nước biển dâng cho các vùng đồng bằng ven biển VN” do Viện di truyền nông nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT thực hiện chỉ có hai khoản với tổng giá trị 78.385 kroner (khoảng 268 triệu đồng) cần làm rõ là khoảng 115 triệu đồng để dự một hội thảo ở Áo chưa được quyết toán, trong đó 52 triệu đồng để chi cho một kế toán dự án không liên quan gì đến hội thảo đi dự.

Trong khi đó, trao đổi với Tuổi Trẻ, vụ phó Vụ Hợp tác quốc tế Bộ NN&PTNT Trần Kim Long cho biết dự án do bộ làm chủ quản đã bước sang giai đoạn 2 và đang vận hành rất tốt. Còn TS Nguyễn Thị Anh Thu (ban quan hệ quốc tế ĐHQG Hà Nội) cho biết các chủ đầu tư dự án đang hoang mang về thông tin ngưng tài trợ các dự án này.

Báo cáo của Cơ quan Đảm bảo chất lượng viện trợ phát triển Đan Mạch viết: “Ba dự án đầu sẽ bị đình chỉ thực hiện và sẽ không chi trả thêm bất cứ khoản nào. Dự án cuối được phép tiếp tục dưới sự giám sát và kiểm soát cao hơn”.

Đan Mạch hiện là một trong những nước dành nhiều viện trợ phát triển nhất cho VN trong lĩnh vực biến đổi khí hậu. VN cũng là nước châu Á duy nhất được Đan Mạch triển khai chương trình nghiên cứu ứng phó với biến đổi khí hậu. Bốn dự án trên nằm trong khuôn khổ hợp tác được phê duyệt tháng 10-2011 với tổng kinh phí hơn 18 triệu kroner (khoảng 62,5 tỉ đồng) và đều là viện trợ không hoàn lại.

H.GIANG

Điều tra nhanh chóng

Đầu năm 2012, Đại sứ quán Đan Mạch đã nhận được những tin tức cho thấy các dự án có mập mờ về tài chính. Tháng 4-2012, sứ quán đã có trong tay tài liệu cho thấy sử dụng tiền sai mục đích. Ngày 24-4, báo cáo đầu tiên được gửi về Văn phòng Kiểm toán quốc gia Đan Mạch và chỉ hai ngày sau theo yêu cầu của Đại sứ quán, Hãng PWC bắt đầu quy trình xác minh các bản kê tài chính. Báo cáo được PWC hoàn tất một tháng sau đó.

Liên quan đến vụ việc, ngay trong chiều 1-6, Thứ trưởng Bộ Khoa học - công nghệ Trần Việt Thanh đã làm việc với đại sứ Đan Mạch tại VN John Neilsen. “Bộ Khoa học - công nghệ sẽ cùng Đại sứ quán Đan Mạch phối hợp với các bộ, ngành liên quan của VN sớm có kết luận cuối cùng một cách khách quan nhất” - ông Trần Việt Thanh nhấn mạnh.

H.GIANG - TTXVN


Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

tính pháp lý của vụ Văn Giang




THƯ TRAO ĐỔI

Kính gửi Giáo sư Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ViệtNam.

Chúng tôi là Luật sư Trần Vũ Hải và Lưu Vũ Anh, Thành viên Đoàn Luật sư Hà Nội.

Chúng tôi được biết ngày 28/04/2012, Ông đã trả lời trên đài BBC rằng Quyết định thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark, Văn Giang – Hưng Yên là đúng luật.

Qua tìm hiểu những tài liệu liên quan, Quyết định thu hồi đất (và giao đất) cho dự án này chính là Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004, do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký (Có bản sao đính kèm theo thư này). Trong Quyết định này có nêu tờ trình số 99/TTr –BTNMT ngày 29/06/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, qua trao đổi trực tiếp với Ông, có thể  Ông đã ký tờ trình này thay mặt Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ngoài ra Quyết định này có nêu tờ trình đề ngày 28/06/2004 của Ủy Ban nhân dân tỉnh Hưng Yên ( có bản sao đính kèm theo thư này), nêu những căn cứ là Luật Đất đai 1993 (có sửa đổi bổ sung những năm 1998, 2001), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001.


Như vậy, Quyết định trên đã không căn cứ vào Luật Đất đai năm 2003 và được ban hành  vào ngày cuối cùng có hiệu lực của Luật Đất đai 1993, trước khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004.

Đối chiếu với 02 Luật được nêu trong Quyết định 742/QĐ-TTg trên, chúng tôi khẳng định như sau (theo quan điểm của chúng tôi):

1/ Thẩm quyền giao đất theo Luật Đất đai 1993 Điều 23 (sửa đổi 1998 và 2001) đối với trường hợp Giao đất có thu tiền sử dụng đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án (là trường hợp của dự án Ecopark) là Chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ không phải là người có thẩm quyền giao đất (Thủ tướng Chính phủ không phải là Chính phủ). Trường hợp Chính phủ giao đất, việc này sẽ được quyết định trong một cuộc họp của Chính phủ hoặc được lấy ý kiến bằng văn bản đầy đủ từ ý kiến của các thành viên Chính phủ. Nếu đa số thành viên đồng ý, Thủ tướng ký quyết định giao đất nhân danh Chính phủ (gọi là Quyết định giao đất của Chính phủ không gọi là quyết định giao đất của Thủ tướng Chính phủ như văn bản 742/QĐ-TTg nêu trên.

Như vậy, Quyết định thu hồi đất nêu trên không do Cơ quan có thẩm quyền theo Luật Đất đai 1993 ban hành, nói cách khác quyết định này được ban hành trái thẩm quyền. Một quyết định ban hành trái thẩm quyền không phải là một quyết định đúng Luật.

2/ Quyết định giao đất trên không phù hợp Điều 22a khoản 1 và 2 Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi 1998, 2001), xin được trích như sau:

“Điều 22a

1. Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

…..

D) Giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với một số trường hợp để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án do Chính phủ quyết định.

2. Việc giao đất có thu tiền sử dụng đất quy định tại điểm d khoản 1 Điều này phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

A) Người sử dụng đất phải có dự án khả thi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

B) Sử dụng đất phải theo đúng quy hoạch;

C) Người sử dụng đất phải có điều kiện về vốn và kỹ thuật.

Tiền thu được từ việc giao đất, tiền xây dựng công trình có được tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất được giao phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.”

Theo chúng tôi được biết, chưa có dự án khả thi nào của Chủ đầu tư được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (tại thời điểm có quyết định giao đất trên) phê duyệt liên quan đến dự án Ecopark. Chúng tôi có thông tin, ngày 18/06/2004, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản  cho biết: “Phương án đền bù giải phóng mặt bằng dự án chưa bảo đảm tính khả thi; hồ sơ pháp lý của chủ đầu tư, khả năng tài chính cho việc thực hiện dự án…chưa đủ.” Thực tế tại thời điểm ngày 30/06/2004, (được coi là chủ đầu tư dự án này)  chưa quá 10 tháng hoạt động. Một quyết định giao đất cho đối tượng chưa đủ điều kiện được giao đất rõ ràng không phải là một quyết định đúng luật.

3/ Trong Quyết định giao đất nêu trên, không ghi rõ tên người sử dụng đất, chỉ ghi chung chung Chủ đầu tư và tại điều 2 của quyết định này giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh lựa chọn và quyết định chủ đầu tư thực hiện dự án, thực chất là ủy quyền cho cấp dưới lựa chọn người được giao đất Lẽ ra trong mỗi Quyết định giao đất đều phải nêu rõ tên, địa chỉ người hoặc tổ chức được giao đất. Mặt khác theo Điều 25 của Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi bổ sung 1998 và 2001) thì Cơ quan có thẩm quyền giao đất (trường hợp này là Chính phủ) không được ủy quyền cho cấp dưới,( tức ủy ban nhân dân tỉnh trong trường hợp này). Thực tế Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng chưa được ghi tên tại một  quyết định giao đất hợp pháp nào. Như vậy quyết định giao đất trên có thiếu sót nghiêm trọng và không phù hợp với Điều 25 Luật đất đai 1993 nêu trên.

Chúng tôi hy vọng với sự trình bày như trên, Ông sẽ thừa nhận quyết định thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark , Văn Giang, Hưng Yên là không đúng luật,  như Ông đã phát biểu với đài BBC ngày 28/04/2012, và sẽ đính chính bài phát biểu trên của Ông. Trường hợp Ông có ý kiến khác, chúng tôi đề nghị Ông có bài trao đổi về những quan điểm trên của chúng tôi.

Để khách quan chúng tôi sẽ mời những chuyên gia pháp lý có uy tín cho ý kiến về những vấn đề trên và liên quan.

Xin trân trọng chào Ông!

Luật sư Trần Vũ Hải, Luật sư Lưu Vũ Anh



Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

lạm phát thấp bất thường




Thứ sáu, 27/4/2012, 08:13 GMT+7  (vnexpress.net)
     
Ông Lê Đăng Doanh: 'Lạm phát thấp hiện nay là bất thường'

Lãi suất giảm, lạm phát thấp song Tiến sĩ Lê Đăng Doanh - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương lo ngại, nền kinh tế có thể rơi vào vòng xoáy nguy hiểm vì doanh nghiệp phá sản, tăng trưởng trì trệ.


- Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP dự kiến năm nay khoảng 6-6,5% nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đều cho rằng, chỉ tiêu này rất khó đạt. Ông có dự báo như thế nào về việc đạt mục tiêu tăng trưởng?

- Tôi cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 6,5% sẽ rất khó đạt được vì đầu tư xã hội dự kiến còn 33,5% GDP. Năm 2011, chúng ta đầu tư 39,8% GDP nhưng tăng trưởng chỉ đạt 5,89%. Thống kê cho thấy đã có 2.200 doanh nghiệp phá sản và 12.000 đơn vị đăng ký ngừng kinh doanh. Rõ ràng, đây là con số rất đáng lo ngại.

Cùng với đó là tiêu dùng điện cho sản xuất giảm mạnh, nhập khẩu nguyên vật liệu cũng giảm (bông giảm 30%, sợi giảm 14%, tín dụng giảm 1,96%). Ngược lại, tồn kho hàng hóa tăng 34%, một con số không nhỏ. Tôi e rằng, tình hình này sẽ tác động xấu đến việc làm, thu nhập của người lao động kéo theo những tiêu cực khác về xã hội.

- Ông nhận xét thế nào bức tranh kinh tế Việt Nam qua con số lạm phát 4 tháng đầu năm rất thấp, quý I xuất siêu lên tới 224 triệu đôla nhưng tăng trưởng chỉ đạt 4%?

- Không nên quá chủ quan vì mức lạm phát thấp. Thực tế, lạm phát thấp là do sức mua giảm mạnh, hàng hóa không bán được và lượng tồn kho cao. Còn xuất siêu chủ yếu do nhập khẩu giảm chứ tăng xuất khẩu chưa cao. Tôi cho rằng, chỉ số CPI tháng 4 chỉ tăng 0,06%, vì chỉ số giá đã chịu tác động rất lớn từ vụ bê bối chất tạo nạc trong thịt lợn, khiến mặt hàng chiếm quyền số lớn trong rổ hàng hóa giảm giá mạnh.

Rõ ràng CPI đã đi phi quy luật vì có hiện tượng bất bình thường. Khi cung cầu ổn định, chắc chắn chỉ số giá sẽ biến động trong tháng sau khi giá xăng dầu, giá thuốc, viện phí tăng.




Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý Kinh tế Trung ương Lê Đăng Doanh. Ảnh: B.D.


- Theo ông, đâu là nguyên nhân khi trần lãi suất đã giảm từ 14% xuống 12% một năm, lãi suất cho vay cũng hạ nhiệt nhưng doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận được vốn?

- Thực ra, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn ngân hàng có rất nhiều nguyên nhân; trong số đó có lý do doanh nghiệp ế hàng dẫn đến tồn kho lớn, không trả được nợ cũ và họ không còn tài sản thế chấp. Cũng có trường hợp một số doanh nghiệp khác không chịu được mức lãi suất tuy đã giảm nhưng vẫn còn cao. Đa số doanh nghiệp chỉ cần vay vốn lưu động, nhu cầu vay cho đầu tư mở rộng sản xuất rất thấp.

Thực tế, hàng nghìn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không có nhu cầu vay vốn. Vòng quay đồng tiền đã giảm từ 2,5 xuống còn 0,8 cho thấy tiền tệ có dấu hiệu bị ngưng trệ. Do đó, theo tôi, vấn đề quan trọng là cần có phương án khoanh, giãn nợ, cho vay bắc cầu để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có điều kiện sản xuất tốt được vay vốn và hoạt động trở lại.

- Kinh tế Việt Nam đang suy giảm nhưng chứng khoán lại tăng trưởng rất mạnh trong thời gian gần đây, thậm chí còn trở thành thị trường hút ròng gần 100 triệu đôla từ nước ngoài. Ông nhận định thế nào về hiện tượng này?

- Thời gian dài vừa qua, giá cổ phiếu đã xuống thấp dưới giá vốn. Một số nhà đầu tư nước ngoài đã tận dụng cơ hội này để mua vào nên vốn ngoại tăng mạnh dẫn đến thị trường được hồi phục khoảng 30%. Tôi cho rằng, chỉ khi kinh tế hồi phục thì thị trường chứng khoán mới tăng trưởng vững chắc được.

- Giá điện tăng cuối năm 2011, rồi giá xăng tăng 2 lần trong 1 tháng gần đây, ông có nhận xét gì về khả năng kiềm soát lạm phát năm 2012 khi Ngân hàng Nhà nước liên tiếp giảm lãi suất ?

- Kinh tế Việt Nam sẽ còn phải đối mặt với sức ép tăng giá. Tuy vậy, nhìn chung do sức mua đã kiệt quệ nên năm 2012, tôi cho rằng, lạm phát sẽ không cao như 2011. Đây là điều chúng ta có thể tin tưởng. Còn đưa ra con số cụ thể là bao nhiêu phụ thuộc rất nhiều vào các thông số từ nay đến cuối năm.

- Vậy để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhưng vẫn đảm bảo an sinh xã hội và kiềm chế lạm phát thì các chính sách kinh tế cần có thay đổi gì?

- Mấu chốt vấn đề theo tôi lúc này là cần thực hiện tái cấu trúc kinh tế, cải cách thể chế, bộ máy cũng như doanh nghiệp Nhà nước. Cần phải thực hiện hệ thống quản trị chuyên nghiệp, công khai minh bạch, làm rõ quyền chủ sở hữu vốn trong doanh nghiệp Nhà nước. Một trong những cốt lõi là làm rõ trách nhiệm giải trình, vì tiền của doanh nghiệp Nhà nước cũng từ người dân mà ra. Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc thất thoát phải giải trình đầy đủ, công khai trước nhân dân.

- Theo ông, thách thức lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam trong 8 tháng còn lại của năm là những vấn đề gì?

- Trong 8 tháng tới thách thức của nền kinh tế Việt Nam là rất lớn. Vì kinh tế thế giới đang trong tình trạng khó khăn, nên Việt Nam sẽ phần nào bị tác động. Kinh tế châu Âu, Mỹ khó khăn, tăng trưởng của Anh và Pháp âm sẽ làm cho thị trường xuất khẩu của Việt Nam bị hạn chế. Trong bối cảnh doanh nghiệp trong nước khó khăn, Nhà nước phải cứu họ. Ngân hàng phải hỗ trợ doanh nghiệp thay vì cứu các đơn vị thân quen. Chính sách vay vốn phải công khai minh bạch, tránh hiện tượng lo lót cho các doanh nghiệp sân sau.

Bên cạnh đó, theo tôi không thể xem thường tác động xã hội của việc hàng loạt doanh nghiệp đình chỉ hoạt động, giải thể, nhất là đối với lĩnh vực bất động sản, xây dựng. Bởi cùng với việc ngưng trệ sản xuất, phá sản thì hàng nghìn người lao động sẽ không được trả lương. Theo tôi, nếu những vấn đề này không được giải quyết triệt để thì Việt Nam sẽ rơi vào vòng xoáy rất nguy hiểm. Đó là doanh nghiệp phá sản, người lao động mất việc làm, tâm lý xã hội hoang mang gây ra hệ lụy là kinh tế khó tăng trưởng.

Hoàng Lan - Nhật Minh

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/04/ong-le-dang-doanh-lam-phat-thap-hien-nay-la-bat-thuong/