Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Không nhận thêm một đôla nào...


Thứ hai, ngày 25 tháng ba năm 2013

Không nhận thêm một đôla nào...

Lời bàn: Tiến trình dân chủ, sửa đổi Hiến pháp, suy thoái kinh tế, quốc nạn tham nhũng, chủ quyền biển đảo... đang nóng dần trên các phương tiện truyền thông (quốc doanh lẫn blog cá nhân) cả nước, mời bà con đọc câu chuyện "giải trí" dưới đây... mà cảnh giác!



Hoa Kỳ đang trải qua cơn đại suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử: đại suy thoái năm 1929. Do sản xuất thừa mứa, thị trường bị bão hòa không tiêu thụ nổi, nạn đầu cơ tiền tệ vọt quá mức. Người thất nghiệp xếp hàng dài dằng dặc trước các quầy phát súp bố thí.

87 tỉ đô la thu nhập quốc gia không cứu nổi nước Mỹ rơi tõm xuống vực thẳm suy thoái. Nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu bị khánh kiệt, một số nhà kinh doanh cỡ bự nhảy lầu tự tử. Nhiều kẻ ranh ma thì tin rằng: muốn sống sót qua cơn bão tố này phải biết mánh mung thiệt giỏi. Trong khi chưa nghĩ ra mánh hay, cả những người Mỹ ranh ma quỉ quyệt lẫn những người lương thiện kéo tới bao vây các phòng tuyển lao động, tìm đọc mục "Cần người" trên các báo.

Bữa đó một người đứng xếp hàng chờ đến lượt bỗng phát hiện ở cột Rao vặt trên tờ New York Post dòng thông báo kì cục in chữ to, đóng khung trang trọng:

"HÃY GỬI CHO TÔI MỘT ĐÔLA, SỐ NHÀ 35, ĐẠI LỘ 12, HARON UYNLEM"

Thằng cha nào đó cả gan thật. Gửi cho tôi một đô, dễ thế! Ở thời buổi này một đô đâu phải là thứ dễ kiếm. Nó là thằng nào mà làm phách dữ vậy? Chắc lại một trò quảng cáo gì đó.

Nhưng nghĩ cho kỹ thì thấy cũng lạ, cũng đáng quan tâm. Một thông báo kiểu đó, đóng khung tử tế, in chữ to nữa chứ. Phải tốn vào đó hơn một đô là ít. Mọi  người bàn tán trong quán cà phê, câu chuyện râm ran to nhỏ chuyền qua tai nhau càng tăng thêm sự chú ý tới lời thông báo kì cục.

- Bác biết chưa? Có người đăng báo đòi một đô và còn cho cả địa chỉ rõ ràng nữa kia.
- Ôi dào, chuyện vớ vẩn. Nhưng dù sao cũng đăng trên báo hẳn hoi.
- Bác nghĩ đó là một doanh nghiệp mới ra đời?
- Không, một trò quảng cáo gì đó thôi.
- Vâng, nhưng quảng cáo thứ gì cơ? Có lẽ cũng đáng quan tâm.

Hôm sau vẫn trên tờ New York Post lại đăng như bữa trước, bằng khổ chữ to, in hơi đậm hơn:

"HÃY GỬI CHO TÔI MỘT ĐÔLA, SỐ NHÀ 35, ĐẠI LỘ 12, HARON UYNLEM"


Dư luận càng xôn xao, mọi người càng phỏng đoán.

- Tôi cho rằng đằng sau thông báo này có chuyện gì đó, có thể thằng cha này đã nghĩ ra được một mánh làm ăn trên thị trường chứng khoán.
- Với một đôla vốn liếng? Chuyện nực cười!
- Đừng tưởng chỉ có chừng đó, nếu số người tham gia rất đông.

Hôm sau nữa, vẫn trên tờ báo đó lại thấy thông báo bằng khổ chữ càng to:

"HÃY GỬI CHO TÔI MỘT ĐÔLA, SỐ NHÀ 35, ĐẠI LỘ 12, HARON UYNLEM"

Chắc phải có chuyện gì nên người ta mới thông báo dai dẳng như vậy mà không cho thêm chi tiết gì. Thế là sau ba ngày trong độc giả báo New York Post, tờ báo có nhiều bạn đọc nhất, một trong những tờ báo lớn nhất thành phố, bỗng nảy sinh một thứ tâm lý khác lạ. Nó nhanh chóng lây lan sang khá nhiều cư dân địa phương.

Không ai rõ bằng cách nào, qua miệng ai, một thông tin được truyền tới tai tất cả mọi người, từ người tiểu thương từng trải đến cụ già hưu trí đa nghi, từ kẻ cầu bơ cầu bất đến nhà kinh doanh lõi đời.

"Cái nhà ông Haron Uynlem này là một tay rất từ thiện, một tỉ phú hơi điên điên. Ông sẽ gửi cho mỗi người đã tỏ lòng tin cậy ông một món quà tuyệt vời. Ông làm vậy để nâng cao tinh thần đồng bào. Đó là một con người theo chủ nghĩa lý tưởng, một người Mỹ chân chính đầy lòng tin tưởng vào đất nước."

Ngày thứ tư, vẫn trên tờ New York Post, bằng khổ chữ lớn hơn:

"HÃY GỬI CHO TÔI MỘT ĐÔLA, SỐ NHÀ 35, ĐẠI LỘ 12, HARON UYNLEM"

Vẫn chỉ ngắn gọn có thế, vẫn một câu khô khan ra lệnh.

Thế là một tin đồn khác phi nước đại trong thành phố. Lần này là một thông tin đảm bảo chính xác, xuất phát từ một nguồn rất đáng tin cậy: "Đây là một nhà kinh doanh thiên tài, sắp khai trương một công ty công nghiệp cực kì vĩ đại với những trái phiếu cực kì nhỏ, mỗi người chỉ góp một đô thôi. Không nhận hơn, ông ta kiên quyết từ chối những người muốn đóng góp quá một đô".

Và chẳng ai thấy mặt Uyn-lem. Người nhân viên lầm lì đeo cổ cồn nhựa trắng ngồi nhận tiền và viết biên lai rõ ràng, chỉ là người làm thuê: "Tôi đâu có biết, tôi chỉ đếm tiền thôi, dùng tiền vào việc gì thì không rõ". Và hối thúc: "Xin lẹ lẹ cho. Phía sau quý vị còn đông lắm. Năm giờ chúng tôi đóng cửa rồi", ông ta cằn nhằn.

Ngày thứ năm trên tờ New York Post hiện ra mấy dòng hơi khác, vẫn in ở vị trí cũ:

"XIN LƯU Ý, TÔI CHỈ NHẬN ĐỒNG ĐÔLA CỦA QUÝ VỊ TỚI 15 THÁNG NÀY LÀ HẾT HẠN"

Vẫn ghi địa chỉ mọi khi: số 35, đại lộ 12, Haron Uynlem.


Thời hạn cuối cùng được thông báo chẳng khác gì ngọn roi quất mạnh, mọi người cuống cuồng sợ bỏ lỡ dịp may, xô nhau chạy tới góp một đô. Nhân viên phát thư của sở Bưu điện ôm hàng chồng thư bảo đảm tới giao cho người gác cổng số 35. Trong dòng thác thư từ này có cả những góp ý, những yêu cầu cung cấp thêm thông tin, những lời nguyền rủa chửi bới, và dĩ nhiên có rất nhiều tờ một đô, có cả đôi tờ séc.

Điều lạ nhất là mọi số tiền vượt qua một đô đều lập tức bị trả lại, khách hàng của Haron Uynlem phải tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc đã nêu, đây không phải là chuyện lừa đảo ấm ớ. Sự chặt chẽ này gây ấn tượng vô cùng mạnh mẽ đến dư luận.

Ngày thứ sáu không có thông báo trên tờ New York Post. Ngày thứ bảy không, ngày thứ tám cũng không...

Ngày thứ chín có thông báo đóng khung trên New York Post.

"QUÝ VỊ CHỈ CÒN HAI NGÀY ĐỂ GỬI MỘT ĐÔLA CHO TÔI. QUÁ HẠN NÀY ĐỒNG ĐÔLA CỦA QUÝ VỊ SẼ BỊ TỪ CHỐI KHÔNG THƯƠNG TIẾC"

Trước nhà số 35 đại lộ 12 đúng là đang xảy ra một cuộc chiến ghê người.

Viên cảnh sát túc trực tại đây hốt hoảng xin tiếp viện để tổ chức thành một đội bảo vệ trật tự. Hàng mấy trăm mấy ngàn người có máu mánh mung chen lấn nhau suốt dọc đại lộ. Giờ hết hạn càng đến gần, các nhà đầu tư càng cuồng nhiệt.


Thấy có cuộc tập hợp khác  thường, khách vãng lai hỏi chuyện, và một số đông trong bọn họ cũng nhào vô nhập cuộc. Dù sao một đô vẫn chỉ là số tiền nhỏ, vả lại, biết đâu đấy? Cuộc sống lúc này vô cùng bấp bênh, tương lai thì mịt mùng chưa biết sẽ ra sao, mỗi cơ may dù nhỏ nhoi cũng không thể bỏ qua.

Cảnh sát nắm tay nhau lập hành lang vào cửa ngôi nhà 35 trong đó nhân viên thu ngân lầm lì đeo cổ áo nhựa trắng ngồi phân phát biên lai với vẻ cau có. Tuy vẫn chịu khó trả lời: đúng năm giờ chiều mai quầy thu ngân đóng cửa hẳn, kiên quyết không nhận thêm một đồng nào nữa. Dứt khoát như vậy. Ông Haron Uynlem không chấp nhận bất cứ trường hợp ngoại lệ nào, bất cứ một đặc quyền đặc ân nào.

Tốc độ dịch chuyển người xếp hàng ngày càng nhanh hơn. Đã có vài xô xát. Một số tên gian lận đã nộp tiền rồi nhưng lại len vào xếp hàng định giở  trò man trá góp thêm một đô nữa, nhưng đám đông cảnh giác canh chừng và kịp thời vạch mặt bọn bất lương. Vả lại chúng thật khó lòng thi thố thủ đoạn gian manh đó: nhân viên thu ngân lầm lì đeo cổ áo nhựa trắng mỗi lần nhận một đô lại đòi xem giấy chứng minh và viết thêm biên lai theo đúng tên họ ghi trên đó. Ông giải thích: luật quy định như vậy, ông không thể làm khác. Đã vậy, ông lại nhớ mặt dai như đĩa. Và có một bản thông kê ghi theo vần chữ cái tên những người đã đóng tiền. Không có cách gì qua mặt được ông.

Ngày cuối cùng, đúng ngày 15 tháng đó, người tới đông đến nổi nhân viên thu ngân suýt bị xé xác khi định tạm đóng cửa để ăn trưa. Cũng may ông ta kịp thời nhận ra tình hình nguy hiểm có thể bùng nổ nên chịu nhịn đói để có tiếp tục cho ra những tờ biên lai một đô.


Đúng năm giờ chiều, CHẤM HẾT, không nhận thêm một đồng nào nữa. Nhân viên đóng cửa. Và van nài nhân viên công lực giúp giải tán đám đông phẩn nộ. Ngài Haron Uynlem trung thành với cam kết, đã hết ngày cuối cùng, phải đóng cửa.

Nhân viên lầm lì đeo cổ áo nhựa trắng ra đi qua một cửa ngách và biến mất trong thành phố New York mênh mông. Biến mất trong Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ vĩ đại đang giữa thời buổi găngxtơ hoành hành, các băng nhóm thanh toán nhau khốc liệt, thời buổi suy thoái kinh tế.

Chỉ một mình gã nhân viên lầm lì đeo cổ áo trắng cóc sợ con quỷ đại suy thoái. Hắn đã có 300.000 ngàn đô trong túi. 300.000 chứ không ít hơn, và tên hắn đúng là Haron Uynlem. Có khác chăng là lúc này hắn không lầm lì nữa và đã quẳng chiếc áo nhựa trắng vào đống rác.

Buộc hắn tội gì đây? Lừa đảo chăng? Lạm dụng lòng tin chăng? Thoạt nhìn thì thấy đúng như thế thật. Trong những ngày, những tuần, những tháng sau đó, các đồn cảnh sát phường, các tòa án chìm ngập trong thư khiếu nại, tố giác, kiện cáo. 300.000 người khờ dại than thở không nhận được tí gì đổi cho đồng đôla đã nộp. Nhưng họ đã lầm. Mỗi người đều đã nhận một tờ biên lai có kí tên Haron Uynlem, trên đó Haron Uynlem chẳng hứa hẹn gì thêm. Chẳng hứa hẹn gì nên chẳng phải cho lại gì, chuyện đó thật bình thường. Gã chỉ đăng trên báo một dòng chữ rất to nghĩa không ai có thể hiểu sai được: “Hãy gửi cho tôi một đôla”. Thế thôi, không nói để làm gì, đó là quyền của hắn. Hắn còn ghi thêm rằng: quá thời hạn qui định hắn sẽ từ chối không nhận thêm một đồng nào nữa và đã làm đúng như vậy. Hơn nữa các tờ biên lai đều ghi danh theo đúng luật, đúng như đã thông báo: “Nhận ông Mỗ số tiền một đôla”. Chấm xuống dòng.


Tòa án Mỹ không lẽ bỏ công sức mở 300.000 hồ sơ về 300.000 vụ kiện đòi mỗi một đôla. Mà những người nộp đơn kiện khi biết phí kiện cáo đắt nhiều lần hơn một đôla cũng đành ngậm quả bồ hòn làm ngọt mà rút đơn thật êm. Chỉ biết tự trách mình sao quá ngu.

Nên nội vụ chìm xuồng luôn. Chẳng có bên nguyên cũng chẳng có bên bị. Thấy người ta đòi một đô, anh móc túi cho một đô. Chẳng có gì trái pháp luật. Người xin và người cho đều hành động hợp pháp.

Haron Uynlem là ai? Hồ sơ vụ này chỉ ghi lại được chân dung mơ hồ của một gã thấp bé, lầm lì, đeo cổ áo nhựa trắng… qua lời tả của một số người bị gã đòi tiền. Để ria hay không để ria? Họ nói mỗi người một phách chả ai chịu ai. Vả sau đó không một ai gặp lại hắn, không một ai nghe nói tới hắn lần nữa, không bao giờ.

Trong hàng ngũ những triệu phú trên thế gian này chắc có Haron Uynlem lẩn quất đâu đó. Hoặc con cháu của hắn. Nên ta phải cảnh giác!

PHH
(Biên soạn theo Hồ sơ Interpol)




Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

câu chuyện niềm tin



THỨ BA, NGÀY 19 THÁNG HAI NĂM 2013

Câu chuyện của niềm tin

Giáp Văn Dương

1. Tôi đến từ nông thôn, gần như từ luống cày chui ra. Thế rồi, như bao bạn trẻ khác, tôi rời quê khi học hết phổ thông. Rồi cũng như bao người khác, tôi ra nước ngoài học tiếp khi xong đại học.

Gần mười hai năm học tập và làm việc ở nước ngoài đã mang lại cho tôi nhiều trải nghiệm thú vị. Một trong những thứ đó là niềm tin giữa con người với con người.

Trước khi ra nước ngoài, những hình dung của tôi về thế giới bên ngoài, về xã hội phương Tây chỉ gói gọn trong mấy chữ: ăn chơi, đồi trụy, tội ác, lừa đảo, thù địch, bóc lột, giãy chết. Tất cả đều là những tính từ và những danh từ, đại từ chung. Rất ít bóng dáng những con người cụ thể, sự việc cụ thể.

Những ý niệm này đã len lỏi vào đầu tôi qua báo chí, phim ảnh, giảng đường, đài truyền thanh... Ngay cả những bàn tán của người lớn quanh bàn trà quê mỗi tối đôi khi cũng có những tác dụng tương tự.

Nhưng tịnh không có một lời nào về niềm tin giữa những con người trong xã hội này. Dường như đó là xã hội của loài lang sói. Chỉ đất nước tôi đang sống đây mới là xã hội của loài người. Tôi tin như vậy, và bao người khác cũng tin như vậy.

Tin, nhưng trước mắt tôi lúc nào cũng như có một một màn sương mù bao phủ làm tôi không nhìn rõ được điều gì. Tất cả chỉ là suy đoán và cảnh giác. Một sự cảnh giác thường trực, được rèn rũa.

Hình dung về xã hội bên ngoài trong đầu tôi là rõ ràng và chắc nịch. Những nhận định được giảng đi giảng lại như một niềm tin yêu vĩnh cửu lẽ nào lại có thể sai. Nhưng vì sao lại có màn sương che phủ?

Những cái tên nước ngoài mỗi ngày thêm phổ quen thuộc. Bên cạnh tên của các nhà khoa học mà tôi gặp hang ngày trên trang sách, thì tên của cả các ca sĩ và các cầu thủ bóng đá cũng dần trở thành những cái tên cửa miệng: tong trang sách, trên mặt báo, trên màn hình ti vi, trong quán nước, ngoài đường phố.

Tôi nhận ra có một sự mâu thuẫn đang quẩn quanh đâu đó chỗ này. Thế giới bên ngoài vừa hấp dẫn vừa đáng sợ. Xã hội bên ngoài vừa cụ thể rõ ràng, vừa mập mờ trừu tượng. Những cái tên nước ngoài vừa xa lạ vừa gần gũi.

Màn sương vẫn còn đó, dù đã mỏng đi đôi chút. Nhưng các ý niệm trong đầu tôi vẫn vững chắc. Tôi tụ nhủ: Chân lý có bao giờ sai.

Nhưng vì sao chân lý lại ẩn nấp sau một màn sương mờ?

Tôi chìm trong sự hoài nghi dày đặc. Tôi hoang mang nhận ra các mâu thuẫn. Và các diễn giải, không phải lúc nào cũng đưa ta đến gần sự thật.

Sự tò mò của tuổi trẻ đã kéo tôi ra khỏi màn sương đó. Tôi muốn thấy bên ngoài họ sống và làm việc như thế nào. Tôi muốn nhìn thấy nó rõ ràng. Mà như vậy, tôi chỉ còn một cách là phải đến tận nơi, sờ tận tay, nhìn tận mặt...

2. Tôi ra đi với tâm trạng đầy tò mò và cảnh giác. Để rồi cũng đầy vật vã khi nhận ra chân lý chỉ là định kiến được tưới mãi vào đầu. Rồi cũng đầy an ủi khi thấy rằng đã là con người thì ở đâu cũng có tin yêu, dù vẫn còn đó sự bất toàn, tốt xấu song hành.

Tôi lang thang từ hệ thống này sang hệ thống khác. Vấn đề là ở những định kiến mang tính hệ thống, chứ không phải ở con người.

Tôi dành hai năm để kết tinh lại nhận thức của mình. Tôi thay đổi, vì trải nghiệm, không phải vì những lời thuyết giảng.

Rồi tôi đi xa hơn nữa. Càng đi xa, tôi càng xót xa vì sự lệch lạc, thậm chí kỳ quái, trong những nhận thức trước đây của bản thân mình.

3. Tôi có bạn bè mới, thầy cô mới, đồng nghiệp mới. Trong công việc không có định kiến, không có phân biệt. Tất cả diễn ra trong một sự trung thực và cởi mở hồn nhiên. Hồn nhiên đến mức ngạc nhiên.

Tôi chìm đắm trong bầu không khí dân chủ, bình đẳng và tinh thần tự do học thuật. Tôi thấy mình được tôn trọng, và ý thức được mình có quyền được người khác tôn trọng.

Tôi phải làm đủ thứ giấy tờ nhưng không bao giờ thấy những con dấu đỏ. Chỉ cần một chữ ký cá nhân là đủ, một cuộc điện thoại, một lá email là xong. Không ai hạch sách, không ai đòi kiểm tra, không ai đòi công chứng bản gốc.

Tôi lên tàu điện: không có người soát vé. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi. Thỉnh thoảng họ có đi kiểm tra định kỳ thì cũng rất lịch sự, không gây cho mình cảm giác khó chịu.

Tôi ra siêu thị: không ai bắt tôi phải gửi đồ trước khi vào mua hàng. Không ai kiểm tra chúng tôi khi ra. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi.

Tôi và một người bạn đi mua bảm hiểm xe. Điều khoản cho thấy biết, nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: nếu chúng tôi bán xe rồi báo mất thì sao? Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên mất một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: tôi tin các anh không làm thế.

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tin tưởng mang tính hệ thống. Một sự tin tưởng cá nhân mạnh mẽ lan tỏa trong toàn xã hội. Chữ Tín được xác lập mà không cần sự có mặt của các loại công chứng bản gốc, chứng thực, xác nhận...

Tôi vỡ ra: À, ra thế. Họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.

4. Mười hai năm sau tôi trở về. Nhiều cái như xưa. Nhiều cái hơn xưa. Nhưng cũng nhiều cái tệ hơn xưa.

Tôi làm thủ tục nhận đồ mình gửi cho mình. Tên tôi đây. Địa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc?

Tôi có làm gì đâu, chỉ là nhận đồ mình gửi cho mình thôi mà sao phức tạp như vậy. Lẽ ra tôi chỉ chờ ở nhà, đúng hẹn công ty vận chuyển sẽ mang đồ đến. Tôi chỉ cần ký xác nhận là xong.

Tôi được giải thích ở Việt Nam mọi thứ cần phải đúng quy trình chứ không đơn giản như vậy.

Tôi ngẫm ra: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin. Mà càng ít niềm tin thì càng nghèo khó.

Tôi bật cười: nghèo khó đúng quy trình.

5. Tôi đưa gia đình đi siêu thị Big C Long Biên. Niềm vui khi thấy một siêu thị bề thế, nhộn nhịp vừa mới nhen lên thì gặp ngay một chuyện ngỡ ngàng: Tất cả những ai muốn vào siêu thị đều phải gửi đồ bên ngoài. Con gái tôi có một túi khoác nhỏ để đựng mấy thứ lặt vặt cũng phải niêm phong rồi mới được mang theo.

Vì sao vậy? Chúng tôi hỏi thì chỉ nhận được câu trả lời: Đây là quy định.

Quy định gì? Quy định không được tin nhau.

Câu chuyện có lẽ sẽ chỉ là một phiền toái buồn, nếu không có chuyện sau khi thanh toán, tất cả khách hàng lại bị kiểm tra một lần nữa, và hóa đơn phải được đóng dấu đỏ “đã thanh toán” thì mới được nhân viên an ninh cho ra ngoài.

Chúng tôi tự hỏi: chuyện quái quỉ gì đang xảy ra vậy? Quầy thanh toán có hai nhân viên kiểm tra và tính tiền. Từ quầy thanh toán ra đến cửa ra này chỉ chừng 2 mét, lại không có hàng hóa gì bày bán trên đoạn đường 2 mét đó. Vậy cớ sao phải kiểm tra lại? Cớ sao phải đóng dấu vào hóa đơn thì mới được ra?

Vợ tôi phản ứng dữ dội: Nếu kiểm tra mà không tìm thấy sai sót nào thì các anh có xin lỗi chúng tôi không? Nhưng chúng tôi chỉ nhận được một câu trả lời lạnh lùng: Đây là quy định.

Tôi nhìn những người xếp hàng chờ kiểm tra và đóng dấu hóa đơn. Tất cả đều kiên nhẫn và ngoan ngoãn. Họ có thể làm gì trên đoạn đường dài 2 mét đó để phải chịu cảnh khám xét?

Tôi lặng lẽ quan sát. Rất nhiều người lớn tuổi. Lịch sử như phảng phất qua bộ quân phục cũ. Một vài nụ cười cầu hòa dù chủ nhân không làm gì sai. Một vài ánh mắt lấm lét không có lý do. Nhiều gương mặt cam chịu và chờ đợi cảnh được khám xét.

Tôi cố gắng tìm lý do để biện minh cho việc làm kỳ quái đó, nhưng không thể.

Tôi rút ra kết luận: Người Việt không tin người Việt. Người Việt không hiểu răng mình có quyền được người khác tôn trọng.

Xã hội đang bắt người Việt phải nghi ngờ nhau.

Nghi ngờ theo quy định.

Và có cả một hệ thống gia cường cho những quy định đó.

6. Chúng tôi ra về, nhưng câu hỏi: Vì sao người Việt không tin nhau vẫn là một ám ảnh. Phải chăng chúng ta đã quen sống trong một sự cảnh giác thường trực đến độ thành phản xạ có điều kiện? Phải chăng di chứng của mấy chục năm chiến tranh vẫn còn hằn nặng, để người Việt luôn thấy mọi thứ xung quanh đều là thù địch, đáng ngờ? Hay có một hệ thống tinh vi đang bắt chúng ta phải nghi ngờ nhau “theo quy định, đúng quy trình”?

Tôi bất giác nhớ đến mớ giấy tờ đỏ choét những con dấu công chứng sao y bản gốc. Tôi tự hỏi: Tôi và triệu người quanh tôi đã mất bao nhiêu thời gian cho những thứ này?

Tôi thở dài: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

Tôi tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin”?

Và khi nào thì người ta không tin nhau?

Rõ ràng là khi có sự dối trá. Người ta không tin nhau khi cần phòng tránh sự dối trá.

Vậy là đang có một sự dối trá phổ biến, đến mức một đoạn đường 2 mét và được kiểm soát chặt chẽ cũng trở nên đáng ngờ.

Sự nghi ngờ đã lan trên từng mét đất.

Và chúng ta đã mất biết bao nhiêu thời gian và nguồn lực để cảnh giác, phòng tránh, đương đầu với sự dối trá này?

Không ai thống kê định lượng, nhưng chắc hẳn là rất nhiều. Nhiều đến mức có thể làm cho đất nước ta kiệt quệ. Kiệt quệ vì luôn phải cảnh giác, đề phòng.

7. Việt Nam đang rất cần một sự quy tụ nguồn lực để phát triển. Nhưng quy tụ làm sao khi cả xã hội sống trong tâm trạng cảnh giác thường trực, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng? Quy tụ làm sao khi sự giả dối đã trờ thành “nỗi nhục lớn”? Quy tụ làm sao khi niềm tin giữa người với người đã trở lên cạn kiệt?

Việt Nam đang rất cần hội nhập, rất cần làm bạn với thế giới bên ngoài. Nhưng hội nhập làm sao khi luôn nhìn thế giới bên ngoài với con mắt thù địch nghi ngờ? Làm bạn làm sao khi không có lòng tin vào đối tác của mình?

Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người chưa thống nhất. Di sản của mấy mươi năm chiến tranh quá đỗi nặng nề. Trong này kinh tế khó khăn. Ngoài kia Biển Đông nổi sóng. Một cuộc hòa giải, để sau đó có một sự hòa hợp Nam Bắc, trong ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết. Nhưng hòa giải, hòa hợp làm sao khi sự nghi kỵ nhau đã được nâng lên thành quy định?

Niềm tin là một vốn quý của xã hội. Nhiều học giả đã gọi niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã hội. Khi niềm tin cạn thì vốn xã hội cũng cạn theo. Mà cạn vốn thì làm sao phát triển?

Vậy nên, câu chuyện về vốn xã hội, trước hết phải là câu chuyện của niềm tin. Mà câu chuyện của niềm tin thì có gì khác hơn là câu chuyện về sự trung thực?

Cũng vậy nên, để khôi phục được niềm tin và làm giàu thêm lưng vốn của mình, vốn đã bị chiến tranh và những sai lầm trong lịch sử tàn phá làm quá nhiều, thì trước hết phải khôi phục được sự thẳng ngay trung thực.

Không có sự trung thực thì không có niềm tin. Không có niềm tin thì thời gian và nguồn lực sẽ chỉ dành cho việc nghi ngờ, đề phòng và cắn quẩn lẫn nhau. Mà mề phòng cắn quẩn lẫn nhau thì nghèo hèn, tụt hậu sẽ là điều tất yếu.
----

http://www.giapvan.net/2013/02/cau-chuyen-cua-niem-tin.html


Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

thế hệ củ văn mì



Học trò đánh thầy giáo nhập viện

Thứ Năm, 04/10/2012, 08:12 PM (GMT+7)

(Tin tuc) - Thấy học trò cạo trọc đầu, thầy Đông yêu cầu Việt lên Hội đồng nhà trường xin phép mới được vào lớp. Bực tức, cậu học sinh lớp 12 cùng đồng bọn bịt mặt, cầm ống tuýp chặn đường đánh thầy nhập viện.

Chiều 4/10, thông tin từ Công an huyện Thanh Chương (Nghệ An) cho biết, cơ quan này vừa điều tra và tạm giữ 2 trong 3 đối tượng vì đã có hành vi tổ chức đánh thầy giáo phải nhập viện.

Trước đó (sáng 2/10), thầy giáo Phạm Xuân Đông, giáo viên trường THPT Đặng Thai Mai (thuộc Thanh Chương, Nghệ An) lên lớp thì phát hiện học sinh Trần Văn Việt (SN 1995, trú tại xóm Bàu Sen, xã Thanh Giang - học sinh lớp 12, Trường THPT Đặng Thai Mai (huyện Thanh Chương) cắt trọc đầu.

Thấy vậy, thầy Đông yêu cầu học sinh Việt lên Hội đồng nhà trường gặp thầy Phó hiệu trưởng chuyên trách xin phép, khi ấy mới được vào lớp. Thay vì lên gặp thầy Phó hiệu trưởng, Việt đã bỏ về nhà.

Chiều cùng ngày, Việt rủ thêm Nguyễn Doãn Tấn (SN 1992), trú cùng xóm Bàu Sen và Nguyễn Tiến Thuận (SN 1990) ở xóm Lam Dinh, xã Thanh Giang (huyện Thanh Chương) đi uống rượu rồi bàn kế hoạch đánh thầy giáo.

Sau khi uống rượu xong, cả ba mang theo ống tuýp nước chọn đến khu vực vắng người qua lại (tức tỉnh lộ 533, đoạn giáp ranh giữa hai xã Thanh Hà và Thanh Giang) để đón thầy Đông.

Sau khi thầy giáo Đông xuất hiện, sợ bị phát hiện, Việt đứng canh xe, còn Tấn và Thuận bịt mặt, cầm ống tuýp xông vào đánh thầy tới tấp. Thầy giáo Đông phải bỏ chạy vào nhà dân thì cả hai đối tượng đuổi theo để đánh tiếp.

Sau khi quay trở lại, chúng còn dùng ống tuýp đập hỏng xe máy của thầy rồi bỏ chạy. Hậu quả, khiến thầy giáo Phạm Xuân Đông bị thương ở tay, chân, vai, lưng… và hiện đang phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương.

Được biết, hiện CA huyện Thanh Chương đã tạm giữ đối với hai đối tượng Nguyễn Doãn Tấn và Nguyễn Tiến Thuận để tiếp tục điều tra xử lý sự việc.

Theo Phan Sáng (Tiền Phong)

http://hcm.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/hoc-tro-danh-thay-giao-nhap-vien-c46a488517.html

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

tội cho dân



xin lỗi quý bằng hữu, hôm rày bận rộn túi bụi nên không có ý tứ gì để mà mần một vài câu "hài chắc cú" cho đỡ quạnh quẽ. Đành sao lại mấy bài viết của thiên hạ... cho bớt cay cú. Đường còn dài, sẽ còn nhiều điều thú vị để nếm trãi. Mong tất cả cứ bình an.


Thứ Tư, 26/09/2012, 09:01 (GMT+7)

Tội cho dân

TT - “Dân nên chia sẻ và hi sinh cho thủy điện!”. Đó là phát biểu gây “chấn động” của ông Trần Văn Hải - trưởng Ban quản lý dự án thủy điện 3, chủ đầu tư thủy điện Sông Tranh 2 - sau chuỗi động đất xảy ra, với lý do: “Chúng tôi luôn sẵn sàng chia sẻ với người dân và mong người dân cũng phải chia sẻ cho chúng tôi”.
Một “chấn động” khác là trong cuộc họp ngày 12-9, tiến sĩ Ngô Thị Lư (Viện Vật lý địa cầu) đã chê dân là “quá kém hiểu biết, chỉ mới nghe động là đã dắt trâu bò, gói ghém đồ đạc bỏ chạy”.

Khi kêu gọi người dân chia sẻ thì chủ đầu tư cũng đã thoái thác trách nhiệm của mình đối với người dân bằng cách đánh bùn sang ao, khi cho rằng những ngôi nhà bị nứt kia chưa hẳn là do động đất mà do người dân xây tường mỏng, nền mỏng hoặc quá nông(?!). Nói như vậy cũng không khác nào trách người dân “kém hiểu biết”, khi xây nhà không đảm bảo chất lượng để xảy ra lún, nứt. Và bây giờ lại vin vào cớ động đất để bắt chủ đầu tư phải bồi thường, do đó theo lời ông Hải, khi xem xét bồi thường cho dân, đơn vị này sẽ “đánh giá một cách thận trọng”. Quả là chua xót khi người dân bị chủ đầu tư “đánh giá” như vậy!

Phóng viên một tờ báo khi trở lại Trà My thì người dân bảo họ bây giờ đang cô độc lắm. Mấy trận động đất trước nhỏ, nhưng bà con thấy đỡ lo vì có đoàn công tác của trung ương, của tỉnh vào kiểm tra. Còn bây chừ, động đất mạnh hơn, nhà cửa thì nứt, chỉ thấy chính quyền tập cho dân đối phó khi có thảm họa động đất xảy ra. Dân còn bảo trước khi triển khai thủy điện Sông Tranh 2, cán bộ ở tỉnh và Ban quản lý dự án thủy điện 3 đến họp dân tuyên bố hùng hồn, như một tờ báo mạng đã trích dẫn: “Xong thủy điện Sông Tranh 2, bà con ở Trà My không còn nước miếng đếm tiền”(?). Còn bây giờ, người dân nơi đây bảo họ quả thật không còn nước miếng nữa, vì họ đã kêu gào khản cả cổ rồi.

Khi di dời người dân để làm thủy điện, “bánh vẽ” được chủ đầu tư đưa ra làm mồi. Khi xảy ra động đất thì người dân lại trở thành nguyên nhân gây dư luận xã hội không tốt khi nhìn về thủy điện Sông Tranh 2 và kêu gọi người dân biết thân biết phận, biết hi sinh biết chia sẻ. Khi bồi thường cho dân, chủ đầu tư lại thận trọng vì biết đâu dân lại “lừa” mình. Cứ nghĩ về dân như vậy, quả là tội cho dân quá. Sống chung với động đất vốn đã khổ, nghe lời “nghịch nhĩ” dân càng khổ hơn.

NGUYỄN PHAN

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/513250/Toi-cho-dan.html



Còn gì nữa mà hi sinh!

173 là số phản hồi bạn đọc chỉ trong một ngày sau phát biểu của ông Trần Văn Hải - trưởng Ban quản lý dự án thủy điện 3, chủ đầu tư thủy điện Sông Tranh 2: “Dân nên chia sẻ và hi sinh cho thủy điện!” (Tuổi Trẻ ngày 25-9). Bạn đọc bày tỏ sự bức xúc về cách trả lời của ông Hải. Bạn đọc cho rằng không thể nào hiểu được đến giờ phút này ông Hải vẫn có thể đòi hỏi dân hi sinh thêm trong khi họ đã chịu đựng và hi sinh quá nhiều.

Những người trong cuộc cũng hết sức bức xúc khi đọc phần trả lời của ông Hải. Bà Hồ Thị Xin - thôn 2, xã Trà Đốc, Bắc Trà My - phản ứng: “Tôi nghĩ ông Hải nói nhầm. Nói chúng tôi chia sẻ, còn gì nữa mà chia. Đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, mọi thứ chúng tôi giao lại cho thủy điện hết rồi. Đi đến một nơi ở mới với bao nhiêu biến cố. Giờ còn gì mà hi sinh nữa. Chỗ ở này, cái nhà này cũng sẽ sập lúc nào chưa biết. Ngày mai chúng tôi chưa biết sống thế nào, hỏi làm sao sẻ chia?”.

Không giấu vẻ thất vọng, bà Nguyễn Thị Huyền Thi - giáo viên Trường THPT Bắc Trà My - cho biết đã nghe đài truyền thanh huyện đọc nguyên văn bài phỏng vấn ông Hải trên báo Tuổi Trẻ. “Thất vọng là bởi cách suy nghĩ của nhà đầu tư e rằng quá đơn giản và tôi có cảm giác họ chỉ biết họ, chỉ biết bảo vệ quyền lợi của họ, còn người dân với trăm mối lo toan thì họ không đề cập. Điều người dân chúng tôi cần hơn cả là liệu khi động đất lớn hơn xảy ra thì đập thủy điện có an toàn không?” - bà Thi nói.

Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My Đặng Phong bày tỏ: “Tôi không đồng tình với ý kiến của ông Hải. Bao nhiêu việc xảy ra với người dân. Bao nhiêu chuyện đến với địa phương từ ngày có thủy điện, đòi hỏi người dân hi sinh gì nữa. Hi sinh cho đất nước này thì dân Bắc Trà My có tiếc gì, nhưng vì một cái thủy điện, vì một doanh nghiệp gây xáo trộn đời sống chúng tôi hỏi còn gì hi sinh nữa”.

 TẤN VŨ - ĐĂNG NAM

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/513249/Ngo-ngang.html