Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Về hiện tượng thơ Bút Tre - Thân Trọng Sơn


Có người gọi là trường phái thơ Bút Tre, có người lại nói dòng thơ Bút Tre, tuy không hề có lý thuyết, tuyên ngôn, không hề có chủ soái, thủ xướng phong trào, đơn giản chỉ vì cứ nghe những câu như thế này thì ai cũng biết : thơ Bút Tre đó :

Thi đua ta quyết tiến lên
Tiến lên, ta quyết tiến lên hàng đầu
Hàng đầu không biết đi đâu
Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi
Con đò dịch đít sang ngang
Bên kia có một cái làng thò ra.

Anh đi chiến dịch bản Mường
Tè xong rồi lại tìm đường về xuôi.

Phụ nữ thường rất hay lươi
Riêng em anh thấy là người cần cu.

Thơ Bút Tre tất nhiên là thơ của tác giả Bút Tre nhưng đồng thời cũng là thơ của ... ai đó không biết làm theo kiểu Bút Tre ( những câu trên thuộc cả hai trường hợp này).

Bút Tre tên thật là Đặng Văn Đang ( 1911-1987 ), người xã Đồng Lương, Sông Thao, Vĩnh Phú. Từng đỗ Tú tài Pháp, từng viết báo, in sách, dạy học, từng công tác trong ngành văn hóa, có khi lên đến chức trưởng ty. Và công việc này hẳn là nhiều lúc yêu cầu Ông phát biểu ý kiến, mà Ông lại thích phát biểu bằng ... thơ. Đại loại như thế này, nói về nhiệm vụ của ngành văn hóa hoặc ca ngợi lao động sản xuất, hô hào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp :

Bây giờ đang đứng trưởng ty
Bút Tre thơ phú tôi thì có sau
Cuối cùng xin nhắc một câu
Văn hóa cơ sở là đầu chúng ta.
Ông Khiêm kể cũng đã tài
Trong chuồng sáu lợn có vài con to
Ông Lai theo Đảng dặn dò
Chuồng ông bảy lợn chăm cho béo tròn.

Những câu "thơ" như thế chắc là không sống được lâu, nhưng Ông vẫn tiếp tục làm và nhiều lúc là ứng tác, kịp thời phản ánh một sự kiện, ca ngợi một nhân vật nào đó :

Anh đi đồng ruộng lắng nghe
Lúa mừng phân bắc, khoai che mảnh vườn.
( Anh đây là Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương Nguyễn Chí Thanh ).

Chú sang công tác bảo tàng
Đó cũng là việc cách màng giao cho.

Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.

Nhiều người thấy là lạ, ngồ ngộ cái kiểu thơ đó : hình ảnh, chữ nghĩa bất ngờ, ngắt câu hạ chữ độc đáo, và nhất là cái lối đổi thanh, đổi dấu cho hợp luật trắc bằng. Mà thú vị nhất là những câu như thế chỉ được "xuất bản miệng" cho nên thiên hạ mặc sức "tái bản" và tự dành quyền chỉnh sứa, thêm thắt . Nếu "anh đi đồng ruộng lắng nghe" có người không biết anh nào đây thì cứ nói rõ ra :

Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân bắc phân xanh đầy đồng.

Và từ đó hoan hô tiếp :

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Bay vào vũ trụ một tuần về ngay.

Hoan hô đồng chí Trần Hoàn
Lên làm bộ trưởng chiếu toàn phim hay !

Hoan hô bác Võ Chí Công
Cho làm khoán hộ ruộng đồng tốt tươi.

Chẳng thấy ai đòi bản quyền, mà thật ra làm sao biết được ai là tác giả đầu tiên, cứ thấy thích thì mô phỏng và sáng tác thêm, và cứ thế dần dà lúc này lúc khác, chỗ nọ chỗ kia lan truyền những bài thơ, câu thơ kiểu như vậy để hình thành một hiện tượng gọi là thơ Bút Tre dân gian. Qua bao nhiêu bài được phổ biến ta có thể rút ra mấy đặc điểm sau đây :

1. Đầu tiên là việc sử dụng những hình ảnh sáng tạo, bắt nguồn từ những liên tưởng bất ngờ, có khi tưởng như ngây ngô nhưng ngầm dụng ý gây cười :

Tiễn anh lên bến ô tô
Đêm về em khóc ... tồ tồ cả đêm

Nhớ quê ra đứng đỉnh đèo
Bỗng đâu thấy một chú mèo gâu gâu
Dừng chân đứng lại trên cầu
Bỗng đâu thấy một con trâu vàng vàng

Hôm nay trên quốc lộ hai
Thể nào cũng có một vài ô tô.

Ta đi bầu cử tự do
Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm

Anh đi giường chiếu lặng câm
Anh về giường chiếu reo ầm cả lên
Anh đi em bấm đốt tay
Anh về em bấm chỗ này chỗ kia.

2. Thứ hai là những câu thơ viết sai vần. Nên biết rằng luật thơ lục bát thường yêu cầu phải có vần : chữ thứ sáu của câu "lục" phải cùng vần với chữ thứ sáu của câu "bát", rồi chữ cuối của câu "bát" lại vần với chữ cuối của câu "lục" tiếp theo.

Cô em má đỏ hồng hồng
Buôn xuôi bán ngược có chồng hay chưa ?
Xe đò ai đón ai đưa ?
Mà em đi sớm về trưa một mình. ( Bàng Bá Lân ).

"Hồng" và "chồng", "chưa", "đưa" và "trưa" : tất cả đều cùng một âm, như thế là vần chính.

Đèo nhau ta dạo phố vui
Thong dong xe đạp ngược xuôi dòng đời
Chở theo khúc khích tiếng cười
Chuyện trò như thể không người chung quanh. ( Diệp Minh Tuyền )

"Vui" và "xuôi", không cùng âm mà chỉ tương tự, "đời" và "cười" cũng vậy, như thế gọi là vần thông.

Còn không cùng âm mà cũng không có âm tương tự thì đích thị là thơ lạc vận, thơ sai vần.

Phải đâu muốn được ai yêu
Là tôi cứ nói dông dài trước sau . ( LMQ)
( Muốn cho có vần thì viết : Là tôi cứ việc nói nhiều nói dai, chẳng hạn.)

Lạc vận có thể vì bí, có thể vì trọng ý tứ nên hy sinh vần điệu. Nhưng thơ Bút Tre thì lạc vận một cách cố ý, để cho người đọc tự sửa lại cho có vần :

- Khen thay giám đốc sở mình
Làm việc thì ít xuất... ngoại thì nhiều.

- Đồ Sơn sóng biển dập dồn
Mấy cô thiếu nữ ngứa chân chạy quanh. ( hoặc : ... ngửa lưng ra phơi ).

( Thì cũng giống như Vân Tiên ngồi cạnh bụi môn / Chờ cho trăng khuất bóp ...chân Nguyệt Nga , chọn chữ nào cho hợp vần ở đây thật là gay, chả thế mà người ta dặn nhau : "Làm thơ nên tránh vần "ôn" / Uống rượu nên tránh làm ồn nói to ! )

- Trên cành con khỉ đánh đu,
Có anh cán bộ vạch cây bên đường.

( Hai câu này khiến ta liên tưởng đến khổ thơ đầu của bài "Con cá nhỏ và người đánh cá ", Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine :

Miễn là cá sống dưới hồ
Cỏn con cũng có ngày to kếch xù
Nhưng mà cá đã cắn cu
Thả ra tôi nghĩ còn ngu nào tày.
"cắn cu" nghĩa là "cắn câu " ! )

3. Đổi dấu các chữ cho hợp luật thơ ( Tam Đao hiểu là Tam Đảo, cần cu thay cho cần cù ...) bởi lẽ thơ lục bát yêu cầu viết đúng luật bằng (B) trắc (T) .

Câu lục : Các chữ thứ 2, 4, và 6 : - B - T - B

Câu bát : Các chữ thứ 2, 4, 6, và 8 : - B - T - B - B

Mặt khác, hai chữ thứ 6 và 8 của câu bát tuy cùng là Bằng nhưng phải khác thanh, nếu chữ thứ 6 không dấu ( phù bình thanh ) thì chữ thứ 8 phải dấu huyền ( trầm bình thanh ), và ngược lại.

Bốn câu thơ sau đáp ứng tất cả yêu cầu về bằng trắc và về thanh nói trên :

Nắng chia (B) nửa bãi (T) chiều rồi (B)
Vườn hoang (B) trinh nữ (T) khép đôi (B) lá rầu (B)
Sợi buồn (B)con nhện (T)giăng mau (B)
Em ơi (B)hãy ngủ (T) , anh hầu (B) quạt đây (B). ( Huy Cận )

Cái việc sửa dấu thế này trong thơ Bút Tre có lúc làm cho chữ mang một nghĩa khác :

Một lần đến nghỉ Tam Đao,
Loanh quanh không biết chỗ nào để ngu.
Một giường bố trí hai cù
Mỗi cù kiếm một cái mu gối đầu. ( hoặc : Sướng khô đành chịu đến chu nhật về ).

Ngày nay khắc phục gian kho
Ngày mai mới có ấm no tương lài.

Liên Xô rất đỗi tự hào
Anh Ga-ga-rỉn bay vào vũ tru.

Đoàn vừa ghé xuống Mũi Ne
Ngó ra thấy những chiếc ghe thật bừ.

4. Ngắt câu, xuống dòng bất ngờ. Dòng trên chưa hết ý, phải đọc tiếp dòng sau mới hiểu, kiểu như " Lúa ở đồng tôi và lúa ở / Đồng nàng và lúa ở đồng quanh" - Nguyễn Bính ).

Nhớ nhung về thị xã Phan
Thiết tha tơ tưởng cô hàng nước măm.

Anh đi công tác Cam Pu
Chia chiến lợi phẩm ở tù ba năm.

Mời anh vào quán kara
OK em đã mở ra sẵn sàng.

Mấy em mặc váy đánh cầu
Lông bay phất phới trên đầu các anh.

Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ chăn vịt thấy cha chăn ngồng
Thấy em hát nhạc Trịnh Công
Sơn xanh sơn đỏ anh không dám vào.

Lần đầu đến nước Xin-Ga
Po vào rồi lại po ra hại đồ
Tuần sau lại đến nước Bồ
Đào Nha rồi lại đào nhô mệt quà
Thế rồi lại đến nước Hoa
Kỳ đi kỳ lại Cu Ba đây rồi.

Cũng có khi dòng trên đã có nghĩa, nhưng nối với dòng sau lại là nghĩa khác :

Chị em nô nức đặt vòng
Hoa mộ liệt sĩ tỏ lòng biết ơn.

Tại vì em chẳng có kinh
Nghiệm nên không thể một mình giúp anh.

5. Từ một bài, một câu thơ Bút Tre không rõ tác giả, mọi người có thể thêm bớt, mô phỏng và đưa ra câu khác, không ngại ai nói đạo văn, đạo thơ gì.
Hai câu sau đây, phổ biến từ lâu, hầu như ai cũng biết :

Anh đi công tác Pơ Lây
Ku dài dằng dặc biết ngày nào ra.

được ai đó thêm vào :

Còn em em ở lại nhà
Cửa mình em mở người ra người vào.
( chắc là lấy cảm hứng từ câu : Chị em du kích tài thay / Bắn tàu bay Mỹ rơi ngay cửa mình !)

hoặc sửa một chữ rồi viết tiếp :

... Ku dài dằng dặc biết ngày nào vê
Anh đi công tác Buôn Mê
Thuột xong một cái anh về với em.

Cũng mấy câu quen thuộc khác :

Chưa đi chưa biết Đồ Sơn
Đi rồi mới biết chẳng hơn đồ nhà
Đồ nhà tuy có hơi già ( hoặc : tuy rất tương cà )
Nhưng là đồ thật chẳng là đồ sơn.

Và nhiều người tiếp tục cải biên :

Chưa đi chưa biết Vũng Tàu
Đi rồi mới biết ta giàu hơn tây
Đúng là họ thiếu vải may
Hai mảnh bé xíu làm vày làm ao.

Chưa đi chưa biết Cà Mau
Đi rồi mới biết không đâu bằng nhà
Cà nhà tuy có hơi già
Nhưng là cà chậm không là cà mau.

Từ hai câu " Nhớ nhung về thị xã Phan / Thiết tha tơ tưởng cô hàng nước măm ", có người đã nối theo :

Vội vàng về thị xã Phan
Rang ngay đậu phụng đón bàn tới thăm.

Và :

Gặp nhau ở thị trấn Phan
Rí ra rí rủm chuyện vàn suốt đêm.

Có thể nói đặc điểm thứ năm này đã làm nên sức sống cho thơ Bút Tre, làm cho nó tồn tại, phát triển, lan truyền rộng khắp. Ai cũng đã từng nghe, từng thuộc, từng làm, từng phổ biến loại thơ này, trong Nam ngoài Bắc, người già người trẻ, trí thức bình dân, có cơ hội là viết cho nhau đọc, đọc cho nhau nghe để cùng cười với nhau. Có khi chỉ là tiếng cười dễ dãi, vô thưởng vô phạt.( Chồng người du kích sông Lô / Chồng em ngồi bếp nướng ngô cháy quần ). Mà đâu chỉ có vậy, đọc đi rồi đọc lại, nghe qua và nghe nữa thì mới thấy tiếng cười của thơ Bút Tre là tiếng cười của truyện tiếu lâm dân gian, của hò vè, ca dao. Nó phản ánh muôn mặt đời sống xã hội một cách trào lộng, châm biếm và nhiều khi ngụ ý phê phán nữa. Người ta thích câu "Mừng ngày bầu cử tự do / Những người xứng đáng thì cho vào hòm " đâu phải chỉ vì tác giả chơi chữ ( hòm = hòm phiếu, thùng phiếu, và hòm = quan tài ) ! Nhiều câu nghe có vẻ ngây ngô, ngớ ngẩn ( Từ trong hang đá đi ra / Vươn vai một cái rồi ta đi vào ) nhưng phải chăng chỉ là sự ngớ ngẩn giả vờ để diễu cợt. ( "... Hàng đầu không biết đi đâu / Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi." " Mấy ông lãnh đạo của mình / Trước rất ghét Mỹ nay hình như thương !" ).

Trên hết thảy vẫn là cái thông minh, dí dỏm thường thấy trong văn học dân gian, không hề thô sơ, thô thiển mà đầy tính nghệ thuật , với nhiều biện pháp tu từ, chơi chữ , nào điệp âm điệp ngữ, ngoa ngữ, nói lái, nào từ đống âm, từ nhiều nghĩa, chuyển đổi từ loại ...

Bốn ông chung một dĩa lòng
Lợn ngồi chễm chệ bên thùng bia hơi.

Con ruồi là giống hiểm nguy
Bốn chân của nó rất vi trùng nhiều.

I-meo anh viết thật bay
Bướm em mong đợi cả ngày lẫn đêm.

Nhà máy sản xuất nhiều mu
Để đem đi bán các chu đội đầu
An toàn ta nhắc nhở nhau
Hễ đi xe máy hàng đầu là mu .

Tất nhiên bên cạnh những người thích thơ Bút Tre vẫn có người không thích, thậm chí chê, nhưng ai cũng phải thừa nhận : hiện tượng thơ Bút Tre, với những đặc điểm về hình thức và nội dung như trên, là có thật, một hiện tượng khá độc đáo chưa từng thấy trong văn học nước nhà. Thơ Bút Tre đã và vẫn đang đi vào quần chúng.

Khen chê thì cũng chẳng sao
Thơ Bút Tre vẫn đi vào quần chung
Chê khen có sái có đùng
Thơ Bút Tre vẫn quần chùng mà ra !

Thân Trọng Sơn
---------------------------
Tài liệu tham khảo :
Wikipedia tiếng Việt.
Thơ Bút Tre đời mới - Nguyễn Vũ Tiềm - nxb THANH NIÊN 2001.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Gia đình 9p 71-72 THVT chia buồn cùng Hồng Thắm


Thân mẫu của Nguyễn Hồng Thắm vừa qua đời. Gia đình 9P niên khóa 71-72 Trung học Vũng Tàu xin thành thật chia buồn.

(dòng chia buồn muộn, xin thứ lỗi)

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Copy từ email: Đặc San của Nhóm mình đã có mặt


Tran Thi Ai Nhan:

  Các bạn ơi,  BBT mi ni tụi mình vừa hoàn thành xong  nhiệm vụ. Đặc San của Nhóm mình đã có mặt, AN gửi các bạn xem trước mặt mũi của em ấy, còn thì chờ 20/11 các bạn sẽ thấy em ấy trình diện đầy đủ nhe!
Đề nghị các bạn cho thông tin về dự Họp mặt để Nhóm VT biết rõ  chuẩn bị việc đặt ăn cũng như quà tặng được chu đáo nha. Mới thấy có CV báo thôi. Mong phản hồi từ các bạn.
        Cảm ơn Cẩm Vân và Ái Liên đã cho AN biết là hai bạn sẽ nhận chuyển giúp ĐS từ VN đến tay các Thầy Cô và các bạn nhóm Pháp văn ở Mỹ.
        AN đã chuyển 500.000đ của  bạn Huỳnh Thanh Tùng đóng góp cho Ngày Họp mặt cho Mỹ Thắng.rồi.
        Một vài thông tin trong phần việc cho 40 Năm tính đến hôm nay xin báo các bạn rõ. AN
 
        Hình 1  :   Bìa Trước và Bìa Sau.
        Hình 2  :   ĐS  khổ 16x24, 212 trang,  nặng 0, 350kg/ cuốn , gọn nhẹ.
       












Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Hịch khoa học


Ta cùng các ngươi
Sinh ra phải thời bao cấp
Lớn lên gặp buổi thị trường

Trông thấy:
Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
Nhật đưa rô-bốt na-ô vào thám hiểm lòng người
Anh, Pháp công nghệ gien chế ra cừu nhân tạo

Thật khác nào:
Đem cổ tích biến thành hiện thực
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng-la-đét ( Bangladesh )
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

Các ngươi ở cùng ta,
Học vị đã cao, học hàm không thấp
Ăn thì chọn cá nước, chim trời
Mặc thì lựa May 10, Việt Tiến
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
Lương ít thì có lộc nhiều
Đường bộ thì Ma-tít, Cam-ry
Đường không leo E-lai, Xi-fic (Vietnam Airlines, Pacific).
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dzô dzô”
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít
Lại còn chính sách khuyến khoa
Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng
Thật là so với:
Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,
Buổi hiện đại bên Nga, Pu-tin dùng Mét-vê-đép,
Ta nào có kém gì?

Thế mà, nay các ngươi:
Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo
Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn
Giáo sư ư? Biết “Thần Đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng
Tiến sỹ a? Nghe “Hai Lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
Có người lấy nhậu nhẹt làm vui
Có kẻ lấy bạc cờ làm thích
Ham mát-xa giống nghiện “u ét đê” (USD)
Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm
Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung
Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu
Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi
Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật
Bệnh háo danh lây tựa vi-rút com-pu-tơ
Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1
Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy
Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi
Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na-niếc na- nô?
Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên

Cho nên
“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua
“Công nghệ tốt” mà không người áp dụng
Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt
Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang
Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
Hiện đại hóa ư? Vẫn bám đít con trâu
Công nghiệp hóa ư? Toàn bán thô khoáng sản
Biển bạc ở đâu, để Vi-na-shin nổi nổi chìm chìm
Rừng vàng ở đâu, khi bô-xít đen đen đỏ đỏ

Thật là:
“Dân gần trăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!

Nay nước ta:
Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu
Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh
Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định
Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang
Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!

Chỉ e:
Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn
Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu
Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài
Tài cờ bạc không địch nổi hắc-cơ quốc tế
Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư
Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ

Hỡi ôi,
Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo
Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu
Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy
Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ
Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia
Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại
Mà lo học tập chuyên môn
Mà lo luyện rèn nhân cách
Xê-mi-na khách đến như mưa
Vào thư viện người đông như hội
Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chẳng phải là to
Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu chỉ là chuyện nhỏ

Được thế thì:
Kiếm giải thưởng “Phiu” cũng chẳng khó gì
Đoạt Nô-ben không là chuyện lạ
Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lếch-xớt, xuống Rôn-roi
Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi-la, ra Rì-sọt
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm
Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một
Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền
Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng
Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng
Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược
Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh
Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử
Vì:
Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?

Cho nên mới thảo Hịch này
Xa gần nghiên cứu
Trên dưới đều theo!


PHẠM XUÂN CẦN
(internet)


Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

Những “quả bom” hiểm họa


Giống như một “quả bom” phát nổ khi con số 4.300 người chết mỗi năm do bị tác động bởi nhiệt điện than ở Việt Nam.

Nhưng 4.300 chưa phải là con số cuối cùng, bởi nếu các dự án nhiệt điện than đang trong quy hoạch đều được đưa vào vận hành thì con số 4.300 của hiện tại sẽ thành 25.000 người chết mỗi năm ở tương lai.

http://laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/nhung-qua-bom-hiem-hoa-381955.bld

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Nguyễn Văn Huyên: TẾT TRUNG THU


Thứ Bảy, ngày 26 tháng 9 năm 2015

Nguyễn Văn Huyên: TẾT TRUNG THU



Tết Trung thu

Lời dẫn: Trung thu không chỉ là tết dành cho trẻ em như chúng ta thường thấy trong xã hội hiện đại. Từ xa xưa, nó được coi là ngày lễ của những người làm nông nghiệp và dần được gắn những quan niệm mới, ước vọng mới của xã hội khiến nó trở nên sinh động và gần gũi với mọi tầng lớp. Quan trọng hơn, mặt trăng, biểu tượng của khả năng sinh sản và người bảo trợ của đời sống vợ chồng, khiến cho Tết Trung thu cũng là dịp để nam nữ tìm hiểu nhau qua những câu hát đối, hoạt động vui chơi trong đêm trăng rằm. Nhân dịp Tết Trung thu sắp đến, chúng ta cùng đọc lại trích đoạn bài "Tết Trung thu" của GS. Nguyễn Văn Huyên đăng trên tạp chí Indochine năm 1942 để cùng thưởng thức sự phức tạp và thú vị của ngày Tết dân gian này.

Nguyễn Văn Huyên
Indochine, Hebdomadaire, Illustré, số 108, 24/7/1942
(bản dịch của Đỗ Trọng Quang)

(…) Mặt trăng, được coi là biểu tượng của khả năng sinh sản, trở thành người bảo trợ của phụ nữ và đời sống vợ chồng. Trên mặt trăng có cung của ông Nguyệt lão và bà Nguyệt, cả hai đều quyết định việc hôn nhân của mọi người trên trái đất. (…) Chính bằng những sợi chỉ tơ hồng mà ông tơ ràng buộc các cặp vợ chồng tương lai. Ông tơ càng buộc chặt, họ càng xích gần nhau, càng yêu nhau. Trai gái chỉ chắc chắn về tình yêu của họ và được gắn bó với nhau trong tương lai bằng hôn nhân nếu sợi được se để thành chỉ. Họ còn ngập ngừng khi chỉ bị rối. Có trường hợp Nguyệt lão se sẵn chỉ trước, buộc cặp vợ chồng tương lai. Chính vì vậy mà một số cuộc cưới xin được dễ dàng: người ta không cần phải đợi cho đến khi chỉ được se xong.

Dù sao, Trung thu, tết của mặt trăng, đồng thời cũng là tết dạm hỏi, lúc cả nam và nữ đều tìm cách làm vừa ý người khác và tìm thấy trong đám đông người bạn đời tương lai của mình. Họ tụ tập từng nhóm từ sáu đến tám người, ngay lúc sẩm tối, trước cửa hay trong sân nhà mình. Họ đứng thành hai phe, một phe nữ, một phe nam. Và họ vừa hát đối vừa ngắm trăng. Người con trai (hay người con gái) có thể bị loại vì hát tồi, hay vì không tìm được câu thơ đáp lại đối phương. Cuộc thi hát đối đáp này chỉ kết thúc khi tất cả những người hát của một phe đều bị loại, chỉ trừ một. Lúc mỗi bên chỉ còn một người hát, thì ai thắng được giải nhất, còn người kia được giải nhì. Phần thưởng này là tiền, lụa, chè hay cái quạt.

Tiếp theo những cảnh hát đối đáp này thường là lễ dạm hỏi và cưới xin: người con gái vừa có sắc vừa có tài được đối phương mình lấy làm vợ, hoặc được một chàng trai đã dự hội dạm hỏi. Nếu những cuộc hát đối đáp này không được kết thúc bằng dạm hỏi thì ít nhất đây cũng là cơ hội để trai gái làm quen nhau.

Ở các gia đình giàu có và danh giá, con trai và con gái không được phép hát như thế. Tuy nhiên, những cô gái thuộc gia đình thượng lưu, để tỏ tài mình trước mắt các chàng trai và các bà mẹ chồng tương lai, đều nhân dịp tết tháng Tám, cũng gọi là tết trẻ em, để đua tài bằng cách làm đủ loại đồ vật với bột, giấy, hoa quả, v.v.

Đêm Trung thu, cả nhà tưng bừng. Cửa mở toang và tất cả những ai ăn mặc tươm tất đều có thể vào nhà. Cô gái có vai trò tích cực nhất trong việc chuẩn bị tết thì lui vào một căn phòng có mành che kín. Trẻ con nô đùa xung quanh bàn dưới sự chỉ dẫn của các anh trai và chị dâu. Khách có thể tự do đi xung quanh bàn. Họ bình phẩm, cười vui. Rồi sau khi khen ngợi và cảm ơn chủ nhà, họ đi ra và tới các gia đình khác. Các vị quý khách thì được cha mẹ tiếp. Và các cô gái chỉ ra khi bố mẹ gọi bưng nước mời khách.

Như vậy, tết Trung thu, trong một quá trình diễn biến lâu dài của tư tưởng và phong tục, đã trở thành ngày hội lớn của tuổi trẻ, trong đó trai gái gặp gỡ nhau và hát đối đáp giữa các đám đông và dưới ánh trăng. (…) Trong các cuộc hát đối đáp đó, họ tha hồ tìm hiểu nhau. Những lời thề thốt được trao đổi trịnh trọng trước ánh trăng rực rỡ xuất hiện uy nghi như một vị thần chứng giám. Và như vậy, ở cuộc đấu tao nhã này nảy nở một tình yêu và những giá trị. Có trường hợp những mối dây chắc chắn ràng buộc các lứa đôi này và những đám cưới được cử hành vào ngày lành tháng tốt của mùa xuân sau.

(…) Đêm đó, khi trăng đã lên ngự uy nghi ở điểm cao nhất của bầu trời, vào thời kỳ này thường rất quang và trong vắt, các nhà thơ tụ họp nhau để uống “rượu hoa vàng” dưới bóng những cây trúc, và nhắm những con ốc ở tháng này của mùa thu thường béo hơn ở những thời kỳ khác, và để cùng nhau ứng tác những vần thơ ca ngợi thiên nhiên vĩnh cửu và tuyệt đẹp. (…)

Trái lại, những thanh niên đã hoặc sắp sửa học hành thành tài lại vui tết Trung thu theo kiểu của họ. Đối với họ, đây là ngày tết của tương lai, ngày tết mở đầu cho các kỳ đỗ đạt sắp tới của họ. (…) Cây đa che cho chú Cuội của dân gian trở thành cây nguyệt quế có hoa nở về mùa thu và đôi khi rụng xuống mặt đất. Cái cây hiếm hoi này, với những cành nhánh oai vệ, là biểu tượng của sự đỗ đạt vinh quang. Đêm đó, ai cũng mong muốn lên cung trăng, qua giấc mộng, bằng một chiếc thang “mây”, mây đan hay mây trời, để hái một cành kỳ diệu của nó.

Vì thế, ở tết Trung thu này, người ta bày lên bàn dành cho trẻ em tất cả các hình trạng nguyên, tiến sĩ… của những khoa thi ngày xưa, hình bàn thờ gia tộc, các đình làng, là những nơi các vị tân khoa sẽ phải đến long trọng làm lễ khi vinh quy về làng.

Trung thu ở nước Việt Nam này đã trở thành một ngày tết mang tính chất phức tạp thú vị, đến nỗi cũng như tất cả các lễ hội có đặc tính dân gian khác, nó làm cho ai cũng quan tâm và sung sướng, bất kể họ thuộc giai tầng nào hay lứa tuổi nào trong nước. Thoạt tiên được coi là ngày lễ của người làm ruộng chỉ lo lắng đến vụ thu hoạch của mình, nó đã được những quan niệm mới và ước vọng mới của xã hội làm trẻ lại và trở nên sinh động. Là ngày tết của dạm hỏi, nó góp phần to lớn làm cho xích lại gần nhau các nhóm và các gia đình sống tách biệt hẳn nhau sâu sắc kể từ sau những ngày lễ hội của Tết Nguyên đán vừa qua. Là ngày tết của lớp tuổi trẻ học trò, nó mang lại cho mọi người hy vọng rằng, trong những ngày sắp đến, họ có thể thờ vua giúp nước, và họ sẽ xứng đáng với lòng tin cậy của các bậc huynh trưởng cũng như của các cô vợ xinh đẹp và đức hạnh đang trông mong trong sự im lặng và tần tảo, được theo sau chàng trong đám rước vinh quy trên những chiếc võng điều.


Nguyễn Văn Huyên toàn tập, Văn hóa và Giáo dục Việt Nam, tập 2,
NXB Giáo dục, 2001, tr. 953-969.

Dẫn lại từ: NguyenVanHuyen.org.vn
TỂU BLOG


Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

Những bài học nho nhỏ



http://www.webtretho.com/forum/f3950/20-bai-hoc-vo-gia-giup-ban-song-tot-va-y-nghia-hon-2041006/


Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Vén Môi Giữa Trời



Tuần qua, người viết này vắng bóng giang hồ vì phải đi bác sĩ.

Thầy lang ái ngại hỏi con bệnh. Vì sao mà lại bai rốn như vậy? Gặp thầy thì phải thành thật khai báo.  - Vì cười.

Cười đến bai rốn vì thấy các “dư luận viên” tưng bừng ngợi ca Phó Tổng thống Joe Biden của Mỹ lẩy Kiều để chào mừng Tổng bí thư của đảng ta – là Nguyễn Phú Trọng khi chàng cười toe bước vào thủ đô Hoa Kỳ.

Vì thiên hạ cứ bàn tán về thiên tài Joe Biden - xin đọc là Bai-đơn chứ không là bi đen – nên người viết đành tìm hiểu và cười lăn lộn đến nỗi trong nhà phải gọi Nai Oan Oan để nằm hở rốn trình diện bác sĩ.

Số là Joe Biden đã nâng ly kể lại tiến trình hòa giải hòa hợp Mỹ-Việt – và chàng kết thúc với phép trích dẫn, quotation, câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Vì khán giả còn lai láng hồn thơ nên ít ai để ý đến việc Biden nhấp môi rồi để lại trên bục cái ly rượu như ly thuốc đắng. Yến tiệc hơi đạm bạc!

Câu thơ (3121) trở thành dừng danh kim cổ Mỹ là:

“Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời”.

Sau đó, các bậc thức giả trong nước liền ngợi ca Phó Tổng thống Mỹ khéo Lẩy Kiều để thắt chặt mối quan hệ giữa hai nước. Một số người uyên bác hơn còn nhắc rằng vào năm 2000, Tổng thống Bill Clinton cũng lẩy Kiều khi chào mừng Chủ tịch nước thời đó là ông Nguyễn Minh Triết, với câu thơ:

“Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn Đông đà sang Xuân”.

Mọi người đều biết Truyện Kiều là tác phẩm văn học phổ biến nhất của dân ta, được các thành phần xã hội từ bình dân đến có học cùng ưa thích. Cũng từ Nguyễn Du, dân ta vịnh Kiều, bói Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều hoặc dẫn Kiều và cho thấy trí thông minh của người Việt trong nghệ thuật chơi chữ.

Nói về ngoại giao thì nếu lãnh đạo nước khác mà muốn làm người Việt vui lòng thì có thể yêu cầu ban tham mưu tìm trong Truyện Kiều đôi lời hoa mỹ thích hợp cho tinh thần hữu nghị. Cũng vậy, lãnh đạo xứ khác có thể trích vài câu danh ngôn của Thomas Jefferson hay Abraham Lincoln để ngợi ca Hoa Kỳ như Chủ tịch Trung Quốc thời đó là Giang Trạch Dân đã biểu diễn. Nếu cứ lấy đó làm thật thì Mỹ đã tưởng bở như khi đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Hồ Chí Minh 70 năm về trước.

Nhưng bảo rằng Bill Clinton và Joe Biden đã lẩy Kiều thì e là không chuẩn mà cần chỉnh!



***


Khách có kẻ ngồi bên đang lấy vaseline xoa vào rốn… mình thì đùng đùng bật dậy: “Nhà bác nghĩ sao mà cho là có vấn đề?”

- Chỉ vì các ông ấy không Tập Kiều hay Lẩy Kiều mà chỉ trich Kiều, thế thôi.

Thấy khách còn  phân vân nghi ngại thì mình phải giải thích, chứ biết làm sao.

Này nhé, “Tập Kiều” là dùng chữ trong Truyện Kiều để làm ra bài thơ mới. Cụ thể là lấy vài chữ trong Truyện Kiều ráp lại thành một bài thơ có vần, không nhất thiết là giữ nguyên thể lục bát của Nguyễn Du, để diễn tả một điều khác hẳn. Nếu không quen thói đốt sách và chôn học trò của cường Tần là phần thư khanh nho, thì phải nhớ là nhiều bậc danh sĩ như Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu hay Tản Đà và Vũ Hoàng Chương đã có các bài Tập Kiều rất hay. Một ví dụ không nên quên là bài điếu văn do cụ Thẩm Quỳnh soạn tại Sàigon năm 1965 nhân kỷ niệm 200 năm sinh của Nguyễn Du, trong đó có câu ca tụng Tố Như của chúng ta lấy toàn chữ trong Truyện Kiều:

Hào hoa phong nhã
Mai tuyết tinh thần
Vốn nhà trâm anh
Có chiều phong vận

Xa hơn thế, cụ Cử Hà Mai Khôi cũng có bài Tập Kiều khá dài, trong đó có đoạn mô tả gia cảnh của Thúy Kiều với chữ lấy từ trong truyện:

Có nhà viên ngoại
Vốn dòng Nho gia
Một trai con rốt (út)
Hai ả Tố Nga
Đủ mùi ca ngâm
Nổi danh tài sắc
Phú quý ai bì
Phong lưu rất mực


Còn "Lẩy Kiều" là ráp một câu sáu chữ ở đoạn này với một câu tám chữ ở đoạn khác nhưng phải cùng một vần và cũng từ Truyện Kiều để có hai câu lục bát mang ý nghĩa khác với nguyên bản. Một thí dụ Lẩy Kiều là khi cụ Sào Nam Phan Bội Châu bị thực dân Pháp an trí tại Bến Ngự vào năm 1925, thì nhà chí sĩ đã lẩy Kiều mà báo với dân chúng về thân phận mình. Bài Kính Cáo Quốc Dân mở đầu như sau:

Ví chăng xét tấm tình si
Thiệt ta mà có ích gì đến ai!
Vội chi liễu ép hoa nài
Còn thân ắt hẳn đền bồi có khi…

«Còn thân ắt hẳn đền bồi có khi» là lời ước nguyện của cụ vì cái bệnh tình si là yêu nước.

Một bài Lẩy Kiều khác thì có ý nghĩa như câu đố:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.
Một mình âm ỷ canh chầy
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi.

Lời giải là cái đèn cầy, là cây nến!

Như vậy thì câu chào mừng mà Tổng thống Clinton và Phó Tổng thống Biden đã đọc chỉ là nguyên bản trong Truyện Kiều chứ làm sao gọi là Lẩy Kiều hay Tập Kiều?

Khách hả hê xoa đầu và đểu thêm một cấp khi tung câu hỏi như ám khí: «Hình như ai đó soạn thảo đoạn diễn văn ấy cũng có dụng ý trong phép trích dẫn Truyện Kiều. Vì tại sao trong 3254 câu và 1627 cặp lục bát lại chọn hai cặp này mà trích?»

Người viết phân vân một sát na, chớp nhoáng, mà nghĩ đến câu «người làm sao của chiêm bao làm vậy».

Tổng thống Clinton là gã đa tình, ưa liếm mép, mà sợ vợ nên ai đó mới chọn cho câu 1795 diễn tả nỗi niềm của anh chàng Thúc Sinh đa tình mà sợ vợ. Câu “Sen tàn cúc lại nở hoa, Sầu dài ngày ngắn Đông đà sang Xuân” là trong đoạn Thúc Sinh bồi hồi đếm lịch cả năm sau khi tưởng là mất Kiều mà nhớ vợ là nàng Hoạn Thư nổi tiếng có máu ghen! Với nết thần nanh đỏ mỏ, nàng có thể được ngồi trong trướng của Hillary.

Không biết là có ai dịch cả văn cảnh của câu thơ cho Bill Clinton biết hay chăng. Và học giả Hà Nội thì mắc bệnh mê Clinton chẳng thua gì em Monica Lewinsky nên cóc nhớ chi tiết mà cứ xuýt xoa.

Giải nhất về tài nghệ xuýt xoa là sau đó: nhiều anh cóc nhái Hà Nội còn học thói vừa thổi da trâu vừa vỗ mông ngựa của Vi Tiểu Bảo, là vừa nói phét vừa nịnh hót, mà luận rằng chữ SEN ấy là để nhắc đến làng Kim Liên của Bác Hồ! Tuyệt chiêu của nền nịnh láo.

Bây giờ là 15 năm sau, ban tham mưu của Joe Biden thì khá hơn và quỷ quái hơn nên chọn câu Trời còn để có hôm nay, Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời. Đó là lời chàng Kim Trọng rất mã thượng an ủi nàng Kiều ở đoạn tái hồi vào cuối chuyện, khi Thúy Kiều tự nghĩ thân mình là ong qua bướm lại đã thừa xấu xa! ...

...

Mà các dư luận viên của Hà Nội chẳng đọc thêm câu sau mới là mười phần thê thảm: Hoa tàn mà lại thêm tươi. Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa!

Than ôi. Ngàn năm văn vật đất Thăng Long!

(Internet)


Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

VỀ 40 NĂM





 Thân gửi các bạn,

Đã lâu rồi  do đang lo cho Đặc San thành hình nên AN  không  cập nhật thông tin để các bạn rõ mọi việc. Hôm nay  xin gửi đến các bạn một số  phần việc chúng ta đã thực hiện được :

      + Đặc San của Nhóm  đang được IN , trong tháng 9/2015 nầy là hoàn tất.  Và thực tế, khi lên marquette bài vở, hình ảnh chính thức thì ĐS đẹp hơn dự kiến ban đầu, số trang thành 212 trang với giá nhà In hổ trợ là  104.000đVN/cuốn. Sau khi BBT hội ý cùng các bạn ( Vũng Tàu) đã thống nhất in 220 cuốn thay vì 200c như ban đầu. Toàn bộ chi phí in ấn, vận chuyển, giao dịch cho ĐS, khi hoàn tất AN sẽ Tổng kết  cho các bạn biết rõ ha!

     +Song song với việc làm Đặc san, Nhóm mình có đặt làm 150  huy hiệu bằng kim loại mạ bạc gắn áo lưu niệm cho Thầy Cô và các bạn về tham dự ( do tiết kiệm chi phí  nên chỉ đặt làm có 150 cái giá 55.000đVN/cái). AN có kèm hình.

     + Trong thời gian qua,  sau khi AN thông báo phần đóng góp của các bạn cho ĐS và Họp mặt ( đã báo rồi), AN lại nhận thêm các đóng góp cho Chi phí cho ngày Họp mặt của một số bạn nữa ( AN đã gửi tin cho người gửi ) sau khi Mỹ Thắng thông báo đề nghị người tham gia đóng góp 200.000đ/ng. Hôm nay AN xin bổ xung thêm  để để các bạn được rõ:

                       . Trần Kim Yến  ( Úc)    :       1.000.000đ VN.
                       . Huy Dũng                      :          300.000đ.
                       .Đinh t Thanh Xuân       :           200.000đ
                       .Vũ thị Quyên                :            200.000đ
                      .Ái Nhân                           :           500.000đ
                      . Tư Hải  ( Úc) 50$           :           805.000đ
                      .Trần Bửu  ( Úc) 50$       :           815.000đ

                Cộng ( đến 23/9/15)            =       3.820.000đ ( AN sẽ chuyển cho Mỹ Thắng vì hiện nay Thắng đang giữ Quĩ nhóm.)

         Hôm nay là 23/9/15, để tiếp tục  các bước tiếp theo  chuẩn bị cho CT 40 Năm, như email trước Mỹ Thắng đã gửi, đề nghị các bạn tham gia việc làm các clip video  nói về mình hoặc gia đình gửi cho Thắng, cũng như đăng ký  tham gia ngày Họp mặt chính thức để Nhóm VT nắm được số lượng người  sắp xếp cho tốt CT Họp mặt. Cảm ơn các bạn thật nhiều, chúc các bạn luôn an vui.

AN.
(từ email của Ái Nhân)



                     

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

BỎ THÊM CHO CHẴN



Bước qua tuổi ngũ tuần, minh mẫn dần chạy đi và lú lẫn hay ập tới. Ông Hai cũng vậy, như mọi người.Tối qua, ông nhận một cuộc điện thoại khuya từ máy để bàn, đó là một người bạn cũ gọi báo tin một người bạn cũ khác đang rất khó khăn, cần sự giúp đỡ từ bạn bè. Sẵn có bì thư trên bàn, ông ghi vội vào mặt sau số điện thoại người bạn cần giúp đỡ mà đầu dây bên kia vừa cho biết.

Sáng đi bộ thể dục rồi ngồi phân tích tình hình thế giới cùng mọi người nên ông Hai về muộn. Bà Hai vừa nhìn thấy ông đã than thở:
- Mới sáng sớm tốn hết 200.000 đồng!

Hỏi ra mới biết đó là tiền lót tay cho anh thợ điện để nhờ kéo đường dây khỏi vướng mái nhà hàng xóm. Chẳng hiểu sao lúc ấy ông Hai lại nhớ cái phong bì, ông hốt hoảng:
- Cái phong bì tôi để trên bàn đâu bà có thấy không?

Bà Hai tỉnh bơ:
- Thì tôi lấy để bỏ 200.000 đồng vô đưa anh thợ điện cho lịch sự.

Lót tay mà cũng phải lịch sự! Ông Hai nhăn mặt, rên lên:
- Trời ơi! Bà có biết là tôi đã ghi số điện thoại của ông bạn đang cần giúp đỡ phía sau bì thư đó không. Giờ lấy đâu ra mà liên lạc?

Đúng là không còn cách để liên lạc, bởi người bạn gọi tới báo tin lại gọi từ điện thoại công cộng.
Thấy chồng hốt hoảng, bà Hai trấn an:
- Được rồi, để tôi đi kiếm anh thợ điện xin lại cái bì thư, ông đừng lo...

Bà Hai đi ngay và hết buổi sáng bà mới quay về, mặt buồn xo:
- Hỏi quanh hỏi quất mới ra chỗ làm anh thợ điện. Tới khi tìm được thì ảnh kêu là vừa bỏ thêm vô 300.000 đồng nữa cho chẵn để gửi cô hiệu trưởng trường mầm non, nơi vừa xin con vô học.

Vậy là cái bì thư có ghi số điện thoại người bạn cần giúp đỡ của ông Hai giờ đã chạy qua chỗ khác, chắc cũng để cho lịch sự. Thấy chồng lại nhăn nhó, bà Hai lại trấn an:
- Ông yên tâm, tôi đã xin địa chỉ cái trường mầm non đó, để tôi ăn chén cơm cho đỡ đói rồi đi xin lại cái bì thư cho ông.

Bà Hai lại đi hết gần nửa ngày và quay về với bộ mặt lo lắng:
- Ông biết không, cô hiệu trưởng nhận phong bì xong lại bỏ thêm 500.000 đồng nữa cho chẵn rồi đem lót tay cho bác sĩ đang chữa bệnh cho mẹ của cổ.

Ông Hai ôm đầu, rên lên:
- Tội nghiệp... cái bì thư quá đi!

Thương chồng, tối hôm đó bà Hai lại lặn lội đi kiếm nhà ông bác sĩ. Đến tận khuya vợ mới về, ông Hai chạy ào ra, hồi hộp:
- Sao bà đi lâu vậy, có cái bì thư không?

Bà Hai ngồi xuống, thở một cái rõ dài:
- Ông bác sĩ lấy phong bì, bỏ vô đó thêm 4 triệu nữa cho... chẵn rồi đem đưa ngay cho anh cán bộ nhà đất nào đó để lo chuyện cái sổ đỏ. Tôi ngồi năn nỉ hoài để hỏi địa chỉ anh cán bộ đó mà ông bác sĩ nhất quyết không nói.

Ông Hai ôm đầu rên rỉ.
- Vậy là mất tiêu cái bì thư, mất tiêu số điện thoại, giờ muốn giúp bạn cũng không biết làm sao.

Vừa lúc đó Ly, con gái xinh đẹp của họ, về tới. Nhìn thấy ba mẹ ngồi bó gối ủ rũ, cô lo lắng:
- Nhà vừa bị mất thứ gì hả ba mẹ?

Bà Hai gật đầu:
- Ừ, mất cái bì thư.

Ly tròn mắt:
- Chỉ có cái bì thư thôi à?

Ông Hai lắc đầu:
- Trên đó có ghi ở mặt sau số điện thoại người bạn của ba đang cần sự giúp
đỡ...

Ly nhíu mày, mở vội túi xách, lôi ra cái phong bì, chìa ra trước mặt ba:
- Phải cái này không ba?

Ông Hai trợn mắt, gằn giọng:
- Sao... sao... con có nó?

Ly mỉm cười, thong thả:
- Dạ, bạn trai của con cho. Ảnh nghe con sắp đi du lịch nước ngoài cùng cơ quan nên cho con 10 triệu đem theo xài vặt.

Bà Hai lắp bắp:
- Sao lại 10 triệu?

Ly nhún vai:
- Dạ, thì ảnh nói vừa được thưởng 5 triệu, bỏ thêm 5 triệu nữa cho... chẵn để tặng con.


(từ email của một người bạn)


nước non ngàn dặm ra đi


cảm ơn Th. đã nhắc về một bài ca của đất nước. Tìm lại, nghe lại, để nhớ, và để phóng tầm mắt về mông lung phía trước...






(quý bạn chịu khó bấm vào hàng chữ "xem video này trên Youtube", hoặc bấm vào chữ Tube phía dưới khung video)


Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Điểm danh các loại người trong VĂN TẾ THẬP LOẠI GIÁO SƯ




Các loại người trong tác phẩm khuyết danh:”Văn Tế Thập Loại Giáo Sư”

Nguyễn Trần Sâm

Năm 2010, trên hàng chục (có thể hàng trăm) trang mạng xuất hiện tác phẩm khuyết danh Văn Tế Thập Loại Giáo Sư (gọi tắt là Văn Tế). Về hình thức, đây không phải loại văn tế đặc trưng mà là thơ song-thất-lục-bát, bắt chước Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Cụ Tiên Điền. Tôi đọc và thực sự kính phục tác giả của nó. Trong vỏn vẹn 392 chữ, tác giả đã vẽ nên một bức tranh hiện thực sinh động về cuộc đua chen mua bằng bán tước, với tài dùng từ ngữ không chê vào đâu được, từng từ được chọn lựa đắt đến mức không thể nào thay thế nổi. Tôi nghĩ tác phẩm này xứng đáng được đưa vào sách giáo khoa Văn của các thế hệ sau.

Bốn năm đã qua, và tôi thấy không nên để mọi người quên đi tác phẩm giá trị này. Tôi quyết định phải viết về nó. Nhưng vì không phải nhà nghiên cứu văn học, nên tôi chỉ dám đặt ra nhiệm vụ là dùng văn xuôi để nói thêm cho rõ hơn, kỹ hơn về các loại người, “thập loại giáo sư, tiến sỹ” được nêu trong Văn Tế. Đúng ra thì lối văn được dùng trong đó đã rất sáng sủa, nhưng do rất cô đọng nên độc giả phổ thông có thể không hiểu hết khi đọc qua một lượt. Và tôi hình dung đối tượng bài viết của tôi chính là tầng lớp độc giả đó. Với các vị có trình độ về Văn Học mà tình cờ xem qua bài này, tôi xin được thông cảm, và nếu được chỉ giáo thì tôi thực sự biết ơn.

*
Văn Tế có 14 khổ. Ba khổ đầu chỉ xin dẫn ra để bạn đọc tiện theo dõi.

1
Tiết quý Thu gió mưa vuồn vuột
Dân quê miềng lạnh buốt xương da
Lập đàn đèn nến hương hoa
Lạy ông tiến sĩ, lạy bà giáo sư.

2.
Bể học vấn hư hư thực thực
Lối quan trường bắc bực gai chông
Vênh vênh một lũ Hội đồng
Phiếu bầu thì có, đầu không có gì.

3.
Không có gì mà gì cũng có
Sự học hàm ngấp ngó đua tranh
Đua tranh thì có giá thành
Mua danh ba vạn, bán danh ba hào.

Từ khổ 4 đến khổ 13, tác giả đặc tả “thập loại” người đua chen trong “bể học vấn” và “lối quan trường”.

*
4.
Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Chốn tam đình ngong ngóng vào ra
Thanh binh chính thị nghiệp nhà
Ô hô mồm giải mép loa cũng tài.

Đây nói về loại người “mũ cao áo rộng”, tức ăn mặc sang trọng, thường xuyên “ngong ngóng”, đi ra đi vào “chốn tam đình”, tức chốn công đường với nhà cao cửa rộng, những tòa nhà mà người dân thường chỉ nhìn thôi cũng đã thấy nghẹt thở, và nếu phải bước vào trong thì thấy kinh hoàng hơn nhiều so với anh Pha của Nguyễn Công Hoan khi vào huyện đường gặp Quan Phụ Mẫu. Nghề của họ là “thanh binh”, nghĩa hẹp là kiểm tra, giám sát binh lính, rộng hơn là có quyền điều khiển những đám đông dân chúng trong xã hội và các quan cấp dưới. Loại này được quyền nói gì thì nói, nói oang oang, với ngôn từ như “rồng leo”. Tuy “mồm giải mép loa” thì khó nói được những điều sâu sắc, nhưng vì có quyền thế nên lời họ nói được coi là “nhả ngọc phun châu” (kiểu như “phân hóa nội bộ nước Mỹ” hay “ném chuột nhưng phải giữ bình”,…).

Loại người này thực ra rất ghét tri thức và trí thức. Ghét tri thức vì nó làm lộ ra sự đểu cáng và dốt nát. Ghét trí thức vì biết người hiểu biết thật sự không trọng gì họ. Và để khỏi bị khinh, cũng là tạo điều kiện để tiến thân xa hơn, họ phải tìm cách khoác lên mình cái áo TS, PGS hay GS. Nhưng họ vẫn chỉ là họ. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nói:

“Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng, nhưng trong thực tế, bản chất của lưu manh là thâm thù, căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung… Ở tầng lớp lưu manh khoác áo trí thức, cái lõi là vô học; bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm.”

*
5.
Nào những kẻ miệt mài đèn sách
Đạo văn người chắp nhặt nên câu
Sách người làm mọt làm sâu
Ô hô nhai lại kiếp trâu kiếp bò.

Trong thập loại người đua chen trong bể học vấn, đây là loại tử tế hơn cả. Họ “miệt mài đèn sách”. Nhưng ngay cả họ cũng chẳng phát hiện hay sáng tạo ra cái gì mới cho xã hội, bởi cũng chỉ nhặt nhạnh, “copy” ở sách này một tí, báo kia một ít, rồi “paste” chúng lại với nhau thành “công trình” này, “luận án” nọ. Hoạt động chính của họ là “đạo văn”, là “làm mọt làm sâu” ở sách người, là “nhai lại” những điều người khác đã nói (và tự cho thê là thâm thúy, tài giỏi lắm!). Một dạng ăn cắp vặt.

*
6.
Nào những kẻ tò vò nuôi nhện
Bụng nhện tròn nó quện luôn ông
Ô hô mông quạnh đồng không
Có hương có khói nhưng không bàn thờ.

Nếu trong thập loại, loại “mũ cao áo rộng” được lợi nhiều nhất từ những cuộc đua tranh thì loại “tò vò nuôi nhện” là loại thảm thương nhất. Thất bại toàn diện. (Mặc dù thành ngữ “tò vò nuôi nhện” phản ảnh sai thực tế là chính tò vò ăn nhện, nhưng ở đây ta hãy cứ hiểu theo nghĩa truyền thống rằng “tò vò nuôi nhện” nói về những kẻ cố công nuôi kẻ khác một cách uổng phí.) “Tò vò nuôi nhện” ở đây là những kẻ dốc hết vốn liếng ra để nuôi những ông “thầy” và vài kẻ nào đó trong “một lũ hội đồng” mà “phiếu bầu thì có” nhưng “đầu không có gì”, nhưng rủi thay, những nhân vật đó “tử” đột ngột (theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng), không thể đem kẻ nuôi mình “về đích”. Kẻ đua tranh không thể thành TS, PGS, GS được, đành cũng “chết” theo kẻ mình nuôi, bị “quện” theo ra chốn “mông quạnh đồng không”. “Chết” mà không thành danh, nên không được lập “bàn thờ”, chỉ được người đời thương hại đốt cho vài nén nhang cho “có hương có khói”.

*
7.
Nào những kẻ lập lờ đục nước
Hội Tâm linh mưu chước sắp bày
Dị nhân đuổi gió hô mây
Quái nhân múa mép, múa tay, múa tiền.

Không chỉ có người đời bình thường bước vào chốn đua tranh vì học hàm, học vị. Những kẻ thuộc “hội tâm linh”, tưởng chừng hướng toàn bộ tâm trí về cõi huyền, không màng danh lợi, lại cũng lao vào cuộc mua danh. Chúng tự tô vẽ bản thân như những “dị nhân” (trước ngày kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, có kẻ còn cam đoan có thể “đuổi gió hô mây” để tạo thuận lợi cho việc tổ chức “đại lễ”), hoặc cố “múa mép, múa tay”, thể hiện mình theo cách nào đó để thiên hạ thấy ở chúng những “quái nhân” có đầy phép lạ, nhằm mục đích được “múa tiền” và… đút túi.

*
8.
Nào những kẻ điên điên dại dại
Nay quốc ca mai lại quốc hoa
Ô hô vỏ lựu mào gà
Nước nôi man mác biết là còn không.

Những kẻ “điên điên dại dại” này thực ra chỉ “điên điên dại dại” ở lối sống. Thực ra, chúng họ hàng rất gần với những kẻ “mũ cao áo rộng” hoặc chính là bọn này. Vì chỉ có chúng mới có quyền “phát động” thi sáng tác “quốc ca (mới)” hay thi đề cử “quốc hoa”. Trong việc tranh đoạt quyền lợi, chúng rất “tỉnh”, rất “cao mưu”. Chỉ có điều, những trò chúng làm đều là trò “vỏ lựu mào gà”, giống như việc làm của bọn làng chơi, lấy nước vỏ lựu, máu mào gà (và thời giờ là các loại hóa chất) để “mượn màu chiêu tập”, “làm hồng vùng kín” để lừa khách chơi, làm như gái còn trinh. Dối trá, lòe bịp dân đen để trục lợi là nghề của chúng. Tác giả Văn Tế, với thái độ khinh bỉ, đã mô tả chúng, những kẻ quyền thế đó, như anh chị em sinh đôi của bọn chuyên dùng mẹo “mượn màu chiêu tập” trong kinh doanh xác thịt. Và thực sự đó là sự tương đồng. Với bọn người quyền thế này thì “đất nước” cũng thành “nước nôi”, và chúng sẵn sàng bán rẻ lúc nào không biết.

*
9.
Nào những kẻ lưu vong thất thổ
Cõi Tây phương mặt rỗ kỳ khu
Học đòi lí lẽ ba xu
Chõ về đàn gảy tai tru mà rầu.

Đây là nói những kẻ đi du học bên “Tây” (chắc không có ý nói Việt Kiều, vì cụm từ “mặt rỗ kỳ khu” rõ ràng nói về những kẻ “học bạc mặt” mới theo được dân bản xứ). Trong số đó, có những kẻ học được ít nhiều “lý lẽ” bên Tây, nhìn về quê nhà thấy có nhiều điều oái oăm, bèn ngứa miệng, lên tiếng “phản biện” hoặc “dạy bảo”. Nhưng đã là kẻ đua tranh trong “bể học vấn hư hư thực thực” thì thực ra cũng chẳng giỏi giang chi, nên cái “lý lẽ” kia cũng chỉ đáng “ba xu”, lại nói cho bọn “tai tru” nghe nên càng chẳng đâu vào đâu, người ngoài cuộc chứng kiến “mà rầu”.

*
10.
Nào những kẻ Đông Âu tu luyện
Trợ cấp còm tằn tiện từng khâu
Gái xinh chẳng dám nhìn lâu
Áo phông son Thái khấu đầu bán buôn.

Đoạn này nói về những kẻ cũng “đi Tây”, nhưng là “Tây Đông Âu”, tức là các nước “xã hội chủ nghĩa anh em” cũ. Cánh này đi theo “đề án 322” của chính phủ, học bổng ở dạng “trợ cấp còm”, phải ra sức tằn tiện mới đủ sống. Thấy “gái xinh” thì ngoảnh đi nơi khác, hoặc có nhìn cũng “chẳng dám nhìn lâu”. Nhìn lâu nhỡ thèm thì tiền đâu bao! Và để xông xênh chút thì trước khi đi đành mang theo ít “áo phông son Thái” sang bán. Mà bán thì sợ nhỡ người quen bắt gặp nên đành “khấu đầu”, giấu mặt. Cố ki cóp kiếm ít, khi về còn có vốn để “mua danh”.

*
11.
Nào những kẻ cúi luồn thân phận
Tay bút gươm lòng lận bút lông
Ô hô trời đất thấu không
Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa.

Đây có lẽ là đoạn có dung lượng ngữ nghĩa lớn nhất. Thú thực, lúc đầu tôi không hiểu câu “Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa” nghĩa là thế nào. Hỏi thì mới rõ, “đô Long” và “đốc Đông” là nói về hai vị đô đốc Nguyễn Tăng Long và Đặng Tiến Đông của quân Tây Sơn. Sử xưa nói Nguyễn Tăng Long chỉ huy đánh trận Đống Đa, và nghe nói vào cái giai đoạn trong ban lãnh đạo cấp rất cao có một vị họ Đặng thì các “xử da” của ta “quyết định” rằng người chỉ huy đánh trận này là Đặng Tiến Đông. Nếu quả có thế thì đây là một sự tráo trở, đánh lừa cả dân tộc! Những “xử da” kia đã chọn lối sống “cúi luồn thân phận”, vung bút ra vẻ như “bút gươm”, nhưng kỳ thực mềm oặt như “bút lông”, sẵn sàng tạo ra những pho sử điêu toa.

Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tác giả Văn Tế không cố tình khẳng định rằng đã có sự tráo trở đổi trắng thay đen như vừa nói. Câu “Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa” ở đây không mang nội dung của một khẳng định mang tính khoa học lịch sử. Đây chỉ là một thủ pháp văn chương để nói về sự tráo trở nói chung trong việc chép sử. Tác giả chỉ muốn nói có loại người sẵn sàng làm những việc như cho “Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa”.

*
12.
Nào những kẻ ghen gà tiếng gáy
Hám vinh danh tháu xoáy công trình
Chưa thôi tranh luận rập rình
Đã lôi nhau đến pháp đình… tội chưa.

Nghĩa của đoạn này khá rõ. Nó nói về những kẻ máu me hơn người, theo “triết lý” “con gà tức nhau tiếng gáy”, và để đạt mục đích thì sẵn sàng “tháu xoáy công trình”. Kèm theo đó là những kẻ khi cảm thấy hình như kẻ khác “tháu xoáy” thì chưa kịp làm rõ trắng đen đã “lôi nhau đến pháp đình”, quyết triệt hạ đối phương để rộng đường cho chính mình trong việc tiến thân.

*
13.
Cũng có kẻ thân lừa ưa nặng
Cũng có cha lẵng nhẵng oán ân
Cuốc Liên điện thoại Ma Lân
Đánh rơi thằng nọ, xí phần đứa kia…

Cuối cùng là những kẻ ngay trong cái “lũ hội đồng”. Họ là những kẻ không còn phải đua tranh để kiếm danh hiệu TS, PGS, GS nữa. Họ đã là những GS. Tuy, như nói ở đầu Văn Tế, họ chỉ có “phiếu bầu” mà “đầu không có gì” hoặc có ở mức chưa đủ xứng đáng, nhưng họ được quyền ban ân huệ cho kẻ khác. Vì những thành viên khác của hội đồng cũng có đệ tử (hay người nuôi) cần được ban ơn, nên cuộc đua tranh càng khốc liệt. “Lũ hội đồng” phải mua bán trong nội bộ hội đồng, hoặc trao đổi theo kiểu “xí phần”: Thằng này “đệ” của tớ đấy nhé, ông bỏ cho nó thì tớ bỏ cho “đệ” của ông. Nếu nhận lời nhiều, bao không hết, hoặc nhận trường hợp “không được giá” thì đành “đánh rơi”: “Khó quá cậu ạ. Mình đã đưa cho mấy tay kia hết cái số cậu đưa cho mình nhưng có lẽ bọn nó vẫn thấy chưa đủ.” hoặc ““Xi vi” (CV, curriculum vitae, chữ Latin, vẫn hay dịch là “lý lịch khoa học”) của cậu chưa ấn tượng lắm, mình không bảo vệ cho cậu được”. Nhiều trường hợp việc bầu bán trở thành việc “oán ân”, và có “cha” máu me đến mức phải “lẵng nhẵng”, cố tìm cách đưa đệ tử “vào cầu”. Các GS trong hội đồng gặp nhau trực tiếp không tiện thì “điện thoại”. Một “Cuốc Liên” nào đó gọi tới một “Ma Lân”: “Nhớ bỏ cho thằng nọ (hay đứa kia) nhé…”

Ở đây cũng phải nói thêm về hai cái tên “Cuốc Liên” và “Ma Lân”. Rất giỏi. Đây chỉ là những ví dụ vu vơ, rất chung chung, nhưng lại gợi ra được những cái tên cụ thể của những vị từng ở trong hội đồng học hàm (ngành Văn). “Cuốc Liên” tất nhiên là viết chệch từ “Quốc Liên”, có thể là Mã Quốc Liên hay Ma Quốc Liên,… còn “Ma Lân” thì là “Mai Gì Lân” hay “Mã Gì Lân” chẳng hạn. Nhưng mà ai có tật thì giật mình thôi. Đố anh nào dám lồng lên, la lên rằng “Thằng viết bài này nó nói xấu tôi!” đấy. Chung chung mà cụ thể, cụ thể mà vẫn chung chung. Thế mới tài!

*
Và khổ kết là:

14.
Phận bèo bọt thia lia mặt nước
Giang sơn này độc dược tràn lan
Bán buôn sông biển non ngàn
Hồn hề hồn hỡi hồn tan hay còn…

*

Như đã nói từ đầu, ngôn từ của bài Văn Tế này không chê vào đâu được. Tuy nhiên, xin nói thêm rằng kể ra hai câu đầu tác giả cứ lấy nguyên văn hai câu của Cụ Tiên Điền:

Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt
Tỏa hơi may lạnh buốt xương da

thì có lẽ hay hơn. Ngoài ra, tôi thấy hình như đoạn kết hơi lạc đề: Lẽ ra “hồn” ở đây phải là “hồn” được tế, tức là các GS, TS; nhưng đây lại có ý nói về những “phận bèo bọt”, phải chăng là nói đám dân đen?

18.10.2014
Nguyễn Trần Sâm

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Kỷ niệm 40 năm rời trường


Không nhớ là tui đã đăng chương trình 40 năm rời trường của nhóm THVT 68-75 tụi mình trên blog này chưa. Nay tui đăng lên để anh Vàng đọc và cũng để quý vị nào lưu tâm đọc qua. Và có thể tham dự được mục nào chăng (?).

xin mời quý vị bấm vào KỶ NIỆM 40 NĂM RỜI TRƯỜNG để xem thông báo ở Trang TTM.

Thân chào!

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Alaska


Đây là chuyến  đi cuả tuị tôi đi Alaska vào tháng 6 năm 2011
















Những tấm hình sau là hình thành phố đầu tiên của Alaska mà chúng tôi tới.


























Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

ngoại đạo vấn phật


Một kẻ ngoại đạo hỏi Phật:

- Không hỏi lẽ hữu ngôn, không hỏi lẽ vô ngôn.
Phật ngồi tòa.

Kẻ ngoại đạo tán thán:
- đức Thế Tôn đại từ đại bi, vén lớp mây mờ khiến tui vào được.
Rồi bái lạy mà đi.

Ngài A-Nan bèn bạch Phật:
- Kẻ ngoại đạo chứng được điều gì mà tán thán rồi đi như vậy?

Phật dạy:
- Như ngựa hay trên đời, nhìn bóng roi mà chạy.

(Như thế lương mã, kiến tiên ảnh nhi hành)

* Lời bàn:
A-nan là đệ tử Phật mà kiến giải không bằng kẻ ngoại đạo. Thử hỏi kẻ ngoại đạo cùng đệ tử của Phật khác nhau bao nhiêu?

* Kệ tụng:
Đi trên lưỡi gươm trần
Chạy trên bờ dao sắc
Khỏi phải bận leo trèo
Thỏng tay mà ngắm cái vực.


Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Cây trái sum xuê



Cây trái vùng Đông Nam Á sum xuê ở Nam Cali. Anh nói: ở đời nhờ ở hiền gặp lành, khiến tui tủi thân. Hôm rày bão tố phong ba.

















Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

nặc danh 01:33



Thiet nghi (ai đó) khong can gi phai ham doa dep bo cai KNN nay lam gi cho no mat long ban be, cai canh ”mua but vuon hoang” tu tu roi thi cung phai dep thoi boi vi khong co nguoi doc, khong co nguoi goi binh luan thi suu tam, viet lach lam gi cho hoang phi thoi gio vo ich ! 

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Thêm đề nghị dẹp blog


CV vừa mới gởi một email:


Nếu không chặn được (cái tên) xỉa xói bạn bè trên KNN thì đề nghị dẹp blog này đi.
CV

Quý bạn đọc lại một nhận xét mới ở bài "cáu sườn???":Hy vong va rat mong gap lai ban be tai dai hoi CHS-THVT do vandaubac to chuc tai Melbourne, Uc Chau 2016.

Tui xin lỗi, vì tui không nhận diện được ai là ai khi người ta xử dụng "nặc danh" hay một danh xưng nào đó. Rồi tui cũng xin lỗi khi cạn nghĩ để tin rằng có một bạn hữu nào đó tên là vandaubac sẽ tổ chức họp bạn trên đất Úc. Đâu ngờ đường đời lắm rắc rối! mà đầu óc tui thì u u minh minh. He!

Mà có nghiêm trọng lắm không để dẹp cái chòi xơ xác này? Mình có thể cười khảy với trò đùa trên không? Tui chỉ thấy mắc cười! (có thể vì tui không phải là người bị người ta chọc).

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

cáu sườn???




Ong noi blog Haidan nay cu phai nhac nho thi moi chiu thay doi muc khac hay sao vay ?
Vi the dien cua tap the THVT de nghi blog Haidan neu khong con "yeu nghe" nua thi nen dong cua va rut lui co thu tu, mong lam thay !