Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Giá trị của bộ sách Nhìn Lại Sử Việt


Giá trị của bộ sách Nhìn Lại Sử Việt

Cập nhật: 13:57 GMT - thứ hai, 12 tháng 11, 2012

Tôi không phải sử gia -- chuyên môn của tôi là khoa học chính trị. Nhưng với tư cách một độc giả và cũng là nhà nghiên cứu, tôi cho rằng Nhìn Lại Sử Việt (NLSV) là một công trình hết sức giá trị, và TS Lê Mạnh Hùng xứng đáng nhận được sự biết ơn của tất cả người Việt Nam chúng ta, kể cả trong và ngoài nước.
Tại sao tôi nói công trình này có giá trị? Trong khi đọc NLSV, tôi không thể không liên tưởng đến bộ Việt Nam Sử Lược (VNSL) của học giả Trần Trọng Kim -- bộ thông sử Việt Nam đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Tôi được may mắn đọc VNSL từ khi còn nhỏ, và tôi đã học được rất nhiều từ bộ sách đó. Tôi nghĩ không ai trong chúng ta phủ nhận giá trị vượt thời gian của VNSL.
Có lẽ Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông của TS Nguyễn Ngọc Bích cũng nghĩ như tôi, nên đằng sau bìa sách NLSV đã ngầm so sánh nó với VNSL. Tôi xin trích lời giới thiệu ở bìa sau NLSV:
Sử gia Trần Trọng Kim xem bộ VNSL của ông mới chỉ tương đương với bộ áo vải để mặc tạm chờ một bộ áo lụa do những sử gia đến sau với đầy đủ phương tiện và tài liệu hơn hoàn tất.
Rất tiếc lời giới thiệu rất hay của TS Nguyễn Ngọc Bích bị hiểu lầm. Trong tập 3 của NLSV mới xuất bản, ở trang 12, tôi đọc thấy lời cải chính như sau:
Sau khi hai tập đầu của bộ sử này được công bố, tác giả Lê Mạnh Hùng đã bị phê phán là ngạo mạn khi dám so bộ NLSV của ông như một bộ áo lụa bên cạnh bộ VNSL của sử gia Trần Trọng Kim (mà chính cụ mô tả mới chỉ như một bộ áo vải "để mặc tạm"). Để giải tỏa ngộ nhận này, Nhà Xuất Bản chúng tôi xin minh xác: mấy lời ghi nơi bìa sau hai tập kia không phải là lời của tác giả Lê Mạnh Hùng mà chỉ là một lời quảng cáo của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ. Và chúng tôi cũng không dám khẳng định bộ sử NLSV là "áo lụa" mà chỉ xin nhắc lại một ước vọng của học giả họ Trần sau khi cụ hoàn tất bộ sử nổi tiếng của cụ...
Tôi hiểu Nhà Xuất Bản cải chính vì không muốn TS Lê Mạnh Hùng bị mang tiếng ngạo mạn. Nhưng tôi nghĩ rằng việc so sánh bộ sách của TS Lê Mạnh Hùng với bộ VNSL của học giả Trần Trọng Kim là hợp lý và cần làm.
Trong bài viết này, tôi sẽ chủ yếu làm công việc so sánh đó. Nhưng trước khi đưa ra bằng chứng cho các lập luận của tôi, tôi xin khẳng định rằng: theo ý tôi, học giả Trần Trọng Kim quá khiêm tốn. Bộ sách của ông không phải là "bộ áo vải" mộc mạc mà thực sự là một bộ áo lụa lộng lẫy vào thời điểm nó ra đời.
Tuy nhiên, dù là áo lụa, do mặc đã lâu nên vải đã sờn và màu đã phai. Bộ sách của TS Lê Mạnh Hùng cũng là một bộ áo lụa lộng lẫy không kém VNSL, nhưng do sinh sau gần một thế kỷ nên kỹ thuật tiến bộ hơn, màu sắc tinh xảo hơn, và chất lượng vải cũng tốt hơn.
Tài liệu phong phú
Đó là ý kiến của tôi, rút ra từ việc so sánh đối chiếu tập 3 của NLSV với tập 2 của VNSL. Sau đây tôi xin nêu ra những lý lẽ và dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho quan điểm của tôi.
Trước hết, NLSV sử dụng tài liệu phong phú hơn VNSL rất nhiều -- đặc biệt là các tài liệu gốc lưu trữ ở nước ngoài và các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam xuất bản trong nửa thế kỷ trở lại đây ở Việt Nam và trên thế giới. NLSV hơn VNSL ở điểm này cũng là điều dễ hiểu, vì những tài liệu trên chỉ được công bố hay chỉ có thể tiếp cận sau khi VNSL ra đời. Nhưng những tài liệu này chính là lý do tại sao NLSV có thể vượt trên VNSL với nhiều chi tiết phong phú hơn và cách kiến giải sâu sắc hơn về các biến cố lịch sử.
"NLSV sử dụng tài liệu phong phú hơn VNSL rất nhiều -- đặc biệt là các tài liệu gốc lưu trữ ở nước ngoài và các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam xuất bản trong nửa thế kỷ trở lại đây ở Việt Nam và trên thế giới. NLSV hơn VNSL ở điểm này cũng là điều dễ hiểu, vì những tài liệu trên chỉ được công bố hay chỉ có thể tiếp cận sau khi VNSL ra đời. Nhưng những tài liệu này chính là lý do tại sao NLSV có thể vượt trên VNSL với nhiều chi tiết phong phú hơn và cách kiến giải sâu sắc hơn về các biến cố lịch sử."
Thứ hai, NLSV không giảng đạo đức và có thái độ phán xét khoa học hơn đối với một số nhân vật lịch sử có vấn đề. Một ví dụ là trường hợp Mạc Đăng Dung. Chúng ta biết Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, rồi bị nhà Minh bên Tàu đe dọa xâm lược nên vua tôi tự trói mình ra cửa Nam Quan xin hàng. Kể đến đoạn này, học giả Trần Trọng Kim bình luận (tr. 17):
Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là môt người không biết liêm sỉ.
Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người, là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được.
Mặc dù những lời nhận xét của học giả Trần có nhiều điểm có lý, ông nên để cho độc giả tự rút ra bài học thay vì giảng đạo đức cho họ. Nếu chúng ta xem lịch sử là một khoa học, thì nhà làm sử phải cố gắng giữ sự khách quan khi phán xét và tránh áp đặt quan điểm của mình lên người đọc.
VNSL đáng khen vì đánh giá Nguyễn Huệ rất công bằng, nhưng không làm được điều đó với Mạc Đăng Dung. Nhà Lê đổ đốn là do vua Lê Uy Mục và Lê Tương Dực hoang dâm tàn bạo. Vua không đáng là vua sao có thể đòi thần dân kính trọng? Nếu Mạc Đăng Dung không cướp ngôi thì người khác cũng sẽ cướp ngôi. Trong NLSV, TS Lê Mạnh Hùng không đánh giá Mạc Đăng Dung như vậy. Tôi cho rằng đây là một điểm rất tiến bộ về quan điểm và phương pháp làm sử của NLSV.
Nguyễn Ánh - Tây Sơn
Thứ ba, NLSV có những phần phân tích kiến giải rất sâu sắc không có trong VNSL. Một ví dụ là chương 20 phân tích lý do Nguyễn Ánh chiến thắng nhà Tây Sơn. Chúng ta biết anh em nhà Tây Sơn nổi lên ở Bình Định và sau một thời gian đã lật đổ cả chúa Nguyễn ở đàng Trong lẫn chúa Trịnh ở đàng Ngoài. Nhưng nhà Tây sơn tồn tại chỉ được một thời gian ngắn thì bị Nguyễn Ánh là dòng dõi của chúa Nguyễn đánh bại. Tại sao? Do đối chiếu nhiều nguồn tài liệu, TS Lê Mạnh Hùng cho ta thấy người Âu châu không đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng của Nguyễn Ánh. Việc vua Quang Trung chết sớm cũng không phải lý do độc nhất giải thích thất bại của nhà Tây sơn. Còn hai lý do nữa, theo TS Lê Mạnh Hùng: thứ nhất là sự phân hóa giữa anh em nhà Tây Sơn, thứ hai là do họ coi thường tầm quan trọng của đất Gia định. Trong khi đó, Nguyễn Ánh có những chính sách được lòng dân Gia định, giúp cho ông ta chiến thắng.
"Học giả Trần Trọng Kim viết khá sơ sài về việc Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với người Âu châu, và ông cũng nhấn mạnh các va chạm và xung đột, đặc biệt là việc cấm đạo của các chúa. TS Lê Mạnh Hùng trong NLSV do có nhiều tài liệu mới nên có thể viết về mối quan hệ giữa Việt Nam với người Âu châu sâu sắc và chính xác hơn trong tất cả sự phức tạp của nó. "
Thứ tư, học giả Trần Trọng Kim coi những phong trào nông dân vào thế kỷ 18 dưới thời chúa Trịnh là "giặc". Chúng ta hãy nghe ông tả nhân vật Nguyễn Hữu Cầu, một trong những thủ lĩnh nông dân nổi bật nhất vào thời đó (tr. 64-65):
Nguyễn Hữu Cầu tục gọi Quận He, người Hải dương, trước đi ăn cướp, sau theo Nguyễn Cừ làm giặc.... Nguyễn Hữu Cầu là một người kiệt hiệt nhất trong bọn làm giặc thời bấy giờ, mà lại quỷ quyệt, ra vào bất trắc lắm: có khi bị vây hàng mấy vòng, mà chỉ một mình một ngựa phá vây ra, rồi chỉ trong mấy ngày lại có hàng vạn người đi theo. Vì rằng ngày thường cướp được thóc gạo của thuyền buôn, đem cho dân nghèo, cho nên đi đến đâu cũng có người theo...
Các tướng sĩ ai cũng sợ, duy chỉ có ông Phạm Đình Trọng là đánh được Hữu Cầu mà thôi, cho nên Hữu Cầu đào mả mẹ ông ấy đổ xuông sông. Từ đó Phạm Đình Trọng thề không cùng sống ở đời với Nguyễn Hữu Cầu.
Còn đây là đoạn trong sách NLSV nói về Nguyễn Hữu Cầu:
Nguyễn Hữu Cầu ... có thể nói là một lãnh tụ kiệt xuất của phong trào đấu tranh khởi nghĩa thời đó. Cầu ... xuất thân từ gia đình nghèo nhưng không nghèo lắm vì lúc bé Cầu đã từng đi học và đã từng là bạn học của Phạm Đình Trọng, một trong những tướng giỏi của họ Trịnh. Năm 1739 Cầu tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, trở thành một tướng lãnh dưới trướng Nguyễn Cừ và được Cừ gả con gái cho... (tr. 221).
Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu vốn là hai bạn học từ thưở nhỏ nhưng về sau lại đi theo hai chí hướng đối lập và trở thành hai kẻ thù không đội trời chung. Trọng nhiều lần đánh bại Cầu và bị Cầu đào mộ mẹ đổ xuống sông. Theo truyền thuyết, Cầu và Trọng đã chống đối nhau ngay khi còn là học trò. Một hôm trong lúc còn đi học, ông thầy ra câu đối: "Mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo," thì Trọng đối ngay là "Tháng Giêng rét dài, tháng Hai rét lộc." Còn Cầu lại đối là "Tháng Mười sấm rạp, tháng Chạp sấm động." Nghe xong ông thầy nói thằng Trọng có khẩu khí làm quan to, còn thằng Cầu chỉ có làm giặc, và có ý không dám dạy Cầu nữa. Khi học trò ra chơi, Trọng bảo Cầu rằng, "Mày làm giặc tao sẽ cầm quân tiêu diệt mày." Cầu đáp, "Nếu tao làm giặc, tao sẽ đánh tan những đứa ra luồn vào cúi." (tr. 223)
Qua hai đoạn trích trên, chúng ta có thể thấy TS Lê Mạnh Hùng không những cho biết thêm nhiều truyền thuyết thú vị về con người Nguyễn Hữu Cầu mà còn có cách nhìn ít định kiến về người thủ lĩnh nông dân này. Cách viết của TS Lê Mạnh Hùng thể hiện quan điểm hiện đại của sử gia: sử gia không đứng về phía vua chúa hay tầng lớp thống trị, mà thiên về đám đông dân chúng. Vua chúa có thế nào dân chúng mới phải "làm loạn". TS Lê Mạnh Hùng gọi phong trào nông dân là những cuộc khởi nghĩa, cho thấy ông tin rằng Nguyễn Hữu Cầu và cộng sự có những lý do chính đáng để nổi dậy chống lại chúa Trịnh.
Một ví dụ cuối cùng là vấn đề Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam. Học giả Trần Trọng Kim viết khá sơ sài về việc Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với người Âu châu, và ông cũng nhấn mạnh các va chạm và xung đột, đặc biệt là việc cấm đạo của các chúa. TS Lê Mạnh Hùng trong NLSV do có nhiều tài liệu mới nên có thể viết về mối quan hệ giữa Việt Nam với người Âu châu sâu sắc và chính xác hơn trong tất cả sự phức tạp của nó. Thực ra đạo Thiên Chúa cũng có rất đông người theo, kể cả trong giới quý tộc, và chính sách của chúa Nguyễn và chúa Trịnh không phải chỉ có cấm.
Dưới đây là ba đoạn trích trong NLSV:
Sự thành công trong việc truyền giáo tại Đàng Trong đã khuyến khích các giáo sĩ Dòng Tên mở rộng tầm hoạt động của họ ra miền Bắc. Năm 1626, cha Giuliani Baldinotti được cử ra Đàng Ngoài. Cha Baldinotti được Trịnh Tráng đón tiếp nồng hậu và ở lại Đàng Ngoài bảy tháng. (tr. 207)
Mặc dù những người theo đạo đầu tiên có thể là những người nghèo khổ, ...nhưng theo nghiên cứu của Cadiere được dẫn trong cuốn Lịch sử Đạo Thiên chúa tại Việt Nam ... xuất bản năm 1941, thì trong số những người đầu tiên được rửa tội theo đạo Thiên chúa cũng có rất nhiều người thuộc giới quyền quý tỉ như ngoài Bắc có Đỗ Viên Mãn làm quan đến chức Phụ Quốc Thượng tướng quân Tiết chế Nam quan Đô đốc Kỳ quận công; còn trong Nam có bà Minh Đức Vương Thái phi vợ chúa Sãi ... (tr. 209)
"Dĩ nhiên NLSV không phải đã hoàn thiện, không phải không có thiếu sót. Nhưng tôi tin rằng NLSV xứng đáng được xem là một bộ áo lụa công phu và lộng lẫy."
Các chúa Trịnh và Nguyễn sở dĩ đón tiếp nồng nhiệt các nhà truyền giáo là vì họ hy vọng kéo được sự giúp đỡ của các giáo sĩ này trong cuộc nội chiến của họ. Nhưng khi thấy rằng việc mở cửa cho các giáo sĩ đã không giúp gì hơn cho mưu đồ của họ, các chúa cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài bắt đầu chính sách cấm đạo. Tuy nhiên chính sách này không thể hiện một cách nghiêm ngặt mà thay đổi tùy theo sự hợp tác của các giáo sĩ với nhu cầu vũ khí và quân sự của các chúa. (tr. 210)
NLSV cũng dành một trang nói về việc truyền bá chữ quốc ngữ đến Việt Nam. Đây là một yếu tố tích cực trong qua trình Việt Nam tiếp xúc với văn minh Âu châu. VNSL, trái lại, không nói gì về sự kiện này.
Tóm lại, với những ví dụ trên, tôi hy vọng chúng ta có thể nói NLSV là một tác phẩm có giá trị vượt lên VNSL -- nhờ đưa vào nhiều tài liệu mới và áp dụng quan điểm sử học hiện đại. Dĩ nhiên NLSV không phải đã hoàn thiện, không phải không có thiếu sót. Nhưng tôi tin rằng NLSV xứng đáng được xem là một bộ áo lụa công phu và lộng lẫy.
Một câu hỏi cuối: liệu "bộ áo lụa" NLSV có "bền" bằng "bộ áo lụa" VNSL không? Chúng ta biết rằng VNSL vẫn còn được sử dụng hơn nửa thế kỷ sau khi ra đời. Liệu NLSV có "sống dai" như thế không? Thú thực tôi không biết câu trả lời cho câu hỏi này, chỉ xin chúc tác giả của nó may mắn!
Tiến sĩ Tường Vũ giới thiệu bộ sách Nhìn Lại Sử Việt (vừa được Tổ Hợp Xuất bản miền Đông Hoa Kỳ ấn hành tập ba, 2012) của tác giả Lê Mạnh Hùng (có bằng tiến sĩ lịch sử của trường LSE, London).

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

con cò


Tôi có một con cò trắng. Mỗi buổi sáng nó đậu trên thành hồ nuôi cá của tôi. Buổi sáng đầu tiên thấy nó, tôi giận lắm, vì ắt hẳn là nó đã no nê với đàn cá của tôi. Tôi tìm một hòn đá để chọi nó. Không trúng, nó bay đi.

Những buổi sáng sau, nó vẫn hiện diện, và tôi tiếp tục "nói chuyện" với nó bằng những hòn đá không trúng đích. Những sáng sau nữa, tôi chỉ huơ tay thôi cho đỡ công lượm đá. Nó như quen rồi với hoạt cảnh thường kỳ này, nên dù đã trông thấy tôi, nó cũng đợi tôi khoát tay một cái mới chịu bay.

Rồi cho đến một buổi sáng, tôi nhô đầu lên thành hồ đồng thời khoát tay theo "trình lập sẳn", mới phát hiện không có nó. Những buổi sáng sau nữa, vẫn vắng bóng nó. Tôi nghĩ buồn: mày đã vô bụng mấy thằng nhậu rồi.

            con cò trắng thương thương
            đâu cần đậu cành mềm
            vẫn lọt vô nồi nhậu
            bi thương!


Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

sinh nhựt hai dân






















































thiệt ra thì cũng không cao hứng lắm đâu để mà tổ chức sinh nhựt. Cái này cũng từ Đặng Liên mà ra nữa. Lần trước Đặng Liên nhắc anh Hùng còn thiếu cái sinh nhựt, thế là phải "trả" (mà lại không có mặt Đặng Liên). Lần này, trong dịp tụ tập ở Bồ Công Anh quán, Đặng Liên lại hỏi tháng tới có sinh nhựt ai? Thế là cũng mượn dịp này đãi quý vị một chầu "cây nhà lá vườn" ở quán Bò nướng vậy. Và lần này cũng vắng Đặng Liên.

Thật vinh hạnh cho tui vô cùng khi quãng cách xa xôi mà bạn hữu chịu khó hiện diện để chỉ cùng nhau cười nói đơn sơ và tạm dùng những món ăn bình dân đến độ không thể bình dân hơn nữa được (không biết mặn, nhạt, chua, chát thế nào?). Thiện, Hòa từ tuốt Biên Hòa cũng về. Chung Hoa và Kim Hoàng thì công việc bận rộn lắm cũng góp mặt. "Võ sư bợm" Nguyễn Phi Hùng thì không nói, vắng anh này mới lạ à. Vắng thằng Lộc, nhớ!

Cảm ơn ba người đẹp ở cái độ "xuân xanh ngoái cổ". Không có ba vị trong buổi tiệc vui này thì cứ hãy thử tưởng tượng, như cái sân trường không có bóng áo dài. Còn nữa các "áo dài", mà người thì du lịch, người thì công việc... trong đó có Mỹ Hạnh, Ngọc Hiệp, cứ réo thèm bò nướng.  Ái Nhân không qua nhưng có gởi tui món quà, tui vừa đưa lên blog, thành thật cảm ơn.

Thật là hào hứng khi tái ngộ anh Dũng, anh Thắng, anh Huê. Bây giờ tui không nhớ mình đã nói chuyện gì, nhắc những kỷ niệm gì, nhưng tui nhớ anh Thắng và anh Huê cười nói giòn tan còn anh Dũng cười hiền như ông Phật.

"Giành micro" nhiều nhứt có lẽ là ông Trưởng thôn Gò Găng, cứ coi hình thì thấy. Có lẽ lâu lắm ổng mới được ngồi chung Hồng Anh, nên chi ổng hồ hởi.

Phần cuối buổi tiệc, tui có đem cây đờn bụi bám, dây chùng, thùng nứt của tui ra. Anh Dũng so dây hơi bị cực. Và Hồng Anh làm bài Tình khúc thứ nhất. Ở một không gian không được yên tĩnh, mà giọng ca miết vào tình yêu dĩ vãng, như cứa vào lòng người... đến độ tui quên chụp hình luôn...

Thật là một buổi họp mặt thân thương và đáng nhớ. (Tui "phấn khởi" quá, khi quý bạn về rồi, tui kêu mấy thằng em dọn một bàn nữa,  "làm" thêm cho đã cái sự đời)




Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

một bài thơ của một người bạn muốn giấu tên


Rồi sẽ có lúc ta trở về với cát,
Muôn vạn đam mê ,yêu, ghét ,gởi lại đời.
Ta mang theo gì ? hồn lạnh,xác tả tơi,
Một chút yêu thương biết ai còn lưu lại...
Trong trái tim , một thời từng bỏng cháy ,
Từng thì thào mật ngọt ái ân xưa.
Ôi những con đường, những chiều mưa của biển,
Tiếng sóng cùng mưa như biết nỗi niềm ta,
Không thét gào , không giận dữ yêu ma,
Mà chỉ khẽ làm yêu đương thức giấc.
Ta sẽ lặng im hoá thân vào cát bụi,
Linh hồn ta sẽ có chút ngậm ngùi,
Bởi ta đâu còn nữa những ngày vui,
Bởi ta sợ người chôn vùi ký ức.
Sao ta đi mà trái tim thổn thức !
Hãy nhẹ nhàng người vuốt mặt một lần sau,
Để ta ngờ mình vẫn có nhau,
Hồn ta nhẹ bay vào miền miên viễn.
( Tôi muốn viết cho một người bạn mà tháng ngày không còn ...)
L.N


Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

cảm tạ Ái Nhân








thiệt là hớn hở khi được nhận quà chúc sinh nhật như vầy. Cảm tạ sư tỷ!

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

sơn tinh và thủy tinh




Chẳng phe nào thắng

Như thông lệ, cuối thu Thuỷ Tinh lại kéo quân vào bờ để đấu với Sơn Tinh. Nhưng đã mấy lần khua chiêng gióng trống mà phía Sơn Tinh vẫn lặng như tờ. Mãi mới thấy Mỵ Nương cầm cờ trắng lấp ló, áo quần rách rưới, thân thể hao gầy. Thuỷ Tinh chưng hửng:
– Ủa, thế tinh binh của nàng đâu: Hổ? Voi? Bò tót?...
Mỵ Nương ngơ ngác:
– Mấy con đó là con gì? Nghe... quen quen nhưng không nhớ chúng hình dáng ra sao?
Thuỷ Tinh kêu trời:
– Than ôi, nếu không bệnh Alzheimer thì chắc nàng phải bị cướp bóc tàn tệ mới thê thảm thế này.
– Đừng xúc cảm, cũng đừng trông mong gì nữa vì em là gái đã có chồng!
– Sao nàng nói thế, bởi giờ nàng vừa ốm đói mà lại già nua! Hôm nay ta đến đây chẳng qua theo thông lệ mọi năm...
– Ra vậy. Lâu nay chồng em và nhà bác đấu đá nhau hoài em cũng chán nhưng phận bé mọn biết làm sao, chỉ mong bác hiểu ra rằng: “Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh, phe nào thắng thì nhân dân đều bại!”
Thuỷ Tinh vỗ đùi:
– Nàng nói chí phải, chẳng qua Biển Đông giờ khó sống nên ta định vào đây giành giựt với vợ chồng nàng một mảnh đất cắm dùi!
– Nhưng dẫu cắm được cái dùi thì lấy chi mà sống? Tài nguyên đã cạn, một mẩu kỳ nam bằng ngón út có sót lại thì con người cũng mót sạch, có đâu đến bác!
– Tệ vậy sao? Thôi, không nói chuyện với nàng nữa! Sơn Tinh đâu ra đây ta hỏi!
– Thế bác không biết gì à? Trước cảnh rừng hoang núi trọc, muông thú tận diệt, nhà em suy kiệt rồi thác đã mấy tháng!
Thuỷ Tinh nghẹn ngào:
– Không ngờ tinh ấy bạc mệnh sớm thế. Nghĩa tử là nghĩa tận, chồng nàng an táng ở đâu để ta đến viếng?
Mỵ Nương khóc ồ:
– Than ôi, chồng em sau khi qua đời người ta đã nhồi bông bán mất, đến nay vẫn chưa biết đang được chưng trong dinh thự của đại gia nào!

NGƯỜI GIÀ CHUYỆN

http://sgtt.vn/Goc-nhin/Phiem-va-biem/171166/Chang-phe-nao-thang.html


giỏi thay sgtt, vừa bị móc moi hoa lá cành mà cũng còn rảnh phiếm đàm cho dzui.






Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

thế hệ củ văn mì



Học trò đánh thầy giáo nhập viện

Thứ Năm, 04/10/2012, 08:12 PM (GMT+7)

(Tin tuc) - Thấy học trò cạo trọc đầu, thầy Đông yêu cầu Việt lên Hội đồng nhà trường xin phép mới được vào lớp. Bực tức, cậu học sinh lớp 12 cùng đồng bọn bịt mặt, cầm ống tuýp chặn đường đánh thầy nhập viện.

Chiều 4/10, thông tin từ Công an huyện Thanh Chương (Nghệ An) cho biết, cơ quan này vừa điều tra và tạm giữ 2 trong 3 đối tượng vì đã có hành vi tổ chức đánh thầy giáo phải nhập viện.

Trước đó (sáng 2/10), thầy giáo Phạm Xuân Đông, giáo viên trường THPT Đặng Thai Mai (thuộc Thanh Chương, Nghệ An) lên lớp thì phát hiện học sinh Trần Văn Việt (SN 1995, trú tại xóm Bàu Sen, xã Thanh Giang - học sinh lớp 12, Trường THPT Đặng Thai Mai (huyện Thanh Chương) cắt trọc đầu.

Thấy vậy, thầy Đông yêu cầu học sinh Việt lên Hội đồng nhà trường gặp thầy Phó hiệu trưởng chuyên trách xin phép, khi ấy mới được vào lớp. Thay vì lên gặp thầy Phó hiệu trưởng, Việt đã bỏ về nhà.

Chiều cùng ngày, Việt rủ thêm Nguyễn Doãn Tấn (SN 1992), trú cùng xóm Bàu Sen và Nguyễn Tiến Thuận (SN 1990) ở xóm Lam Dinh, xã Thanh Giang (huyện Thanh Chương) đi uống rượu rồi bàn kế hoạch đánh thầy giáo.

Sau khi uống rượu xong, cả ba mang theo ống tuýp nước chọn đến khu vực vắng người qua lại (tức tỉnh lộ 533, đoạn giáp ranh giữa hai xã Thanh Hà và Thanh Giang) để đón thầy Đông.

Sau khi thầy giáo Đông xuất hiện, sợ bị phát hiện, Việt đứng canh xe, còn Tấn và Thuận bịt mặt, cầm ống tuýp xông vào đánh thầy tới tấp. Thầy giáo Đông phải bỏ chạy vào nhà dân thì cả hai đối tượng đuổi theo để đánh tiếp.

Sau khi quay trở lại, chúng còn dùng ống tuýp đập hỏng xe máy của thầy rồi bỏ chạy. Hậu quả, khiến thầy giáo Phạm Xuân Đông bị thương ở tay, chân, vai, lưng… và hiện đang phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương.

Được biết, hiện CA huyện Thanh Chương đã tạm giữ đối với hai đối tượng Nguyễn Doãn Tấn và Nguyễn Tiến Thuận để tiếp tục điều tra xử lý sự việc.

Theo Phan Sáng (Tiền Phong)

http://hcm.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/hoc-tro-danh-thay-giao-nhap-vien-c46a488517.html

Mỹ ngược đời




Thứ Sáu, 28/01/2005 - 06:02

Những chuyện ngược đời trong nền giáo dục Mỹ

Một người Việt Nam lần đầu tiên tìm hiểu nền giáo dục Mỹ chắc chắn ngỡ ngàng và cảm thấy có nhiều chuyện ngược đời. Dưới đây tôi xin kể năm trong số đó.

1.Chuyện ngược đời đầu tiên là trẻ em Mỹ không cần trường. "Không cần" theo nghĩa đen, chứ không phải một cách nói ví von hoa mỹ về một thực tế khác cũng ngược đời nếu so với giáo dục Việt Nam: nhà trường chỉ là một thành phần, cho dù là một thành phần quan trọng, trong một phức hợp xã hội có nhiệm vụ giáo dục những công dân Mỹ tương lai. Nhà trường không và cũng không thể thay thế được gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, văn học nghệ thuật, viện bảo tàng, lễ hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động thể thao..."Không cần" ở đây có nghĩa là trẻ em Mỹ có thể học ở nhà, theo chế độ homeschooling (học tại gia).

Chế độ "Học tại nhà" (Home schooling) cho phép cha mẹ tự giáo dục con cái thay vì cho chúng đến trường mà không yêu cầu phải có chứng chỉ gì đặc biệt. Nhiều người Mỹ cho rằng đó là cách để trẻ em có thể phát huy tính tự lập, chủ động trong cả 365 ngày chứ không chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động trong những lúc đến trường. Đó là một nguyên lý giáo dục khác hẳn, dựa trên quan điểm là mọi bậc cha mẹ đều có thể giúp đỡ con cái học tại nhà. Nhiều gia đình không hề sử dụng các tài liệu hướng dẫn hay chương trình giảng dạy chính thức, mà căn cứ và thiên hướng và phong cách cá nhân của trẻ em để áp dụng các phương pháp và nội dung cụ thể. Ngay cả trong trường hợp có sử dụng các tài liệu hướng dẫn, thời gian học tập hàng ngày cũng không kéo dài quá vài tiếng đồng hồ, thời gian còn lại dùng để du lịch, biểu diễn, tham quan, đọc sách, tiến hành các dự án nghiên cứu hay tham gia hoạt động từ thiện. Hiện nay có khoảng 1 triệu gia đình ở Mỹ áp dụng và theo thống kê đang tăng lên khoảng 15% mỗi năm.


2 Chuyện ngược đời thứ hai là nếu đến trường, trẻ em Mỹ cũng không theo một chương trình thống nhất. Ở Mỹ, chương trình học của các trường phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà còn khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng trường. Rất nhiều người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề biết gì về thuyết Darwin. Ở một số địa phương, đặc biệt là tại các bang ở miền Nam, do ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiên Chúa Giáo, giảng dạy thuyết Darwin thậm chí còn bị coi là phi pháp.

Vì không học theo một giáo trình thống nhất, trình độ của học sinh khi tốt nghiệp trung học rất khác nhau. Chính vì lẽ đó, ở năm thứ nhất, các trường đại học Mỹ thường có 3 môn bắt buộc là Học nghĩ, Học nói và Học viết. Trong số 18 sinh viên lớp Học viết (English 101) do tôi phụ trách, có những sinh viên hiểu biết rất rộng và sâu, nhưng cũng có sinh viên thậm chí viết tiếng Anh còn sai chính tả và ngữ pháp. Tuy vậy, họ có một điểm chung là rất tự tin. Đó là kết quả của một triết lý giáo dục mang tính dân chủ. Việc chấm điểm, chẳng hạn. Nếu ở ta chấm điểm là biện pháp nhằm xếp loại học sinh và đánh giá giáo viên, điều cuối cùng dẫn giáo viên đến tình trạng chạy theo thành tích và rất nhiều học sinh đến tâm lý tự ti. Không tự ti sao được khi một đứa trẻ từ lớp 1 đến lớp 12 luôn luôn đội sổ, và điều đó được công bố cho tất cả bạn bè cùng lớp. Ở Mỹ, việc chấm điểm là vấn đề tế nhị, thường là giữ kín. Nó là cơ sở để học sinh tự biết mình và để giáo viên điều chỉnh phương pháp giáo dục với từng học sinh. Nhà trường Mỹ luôn cố gắng để học sinh không cảm thấy thua chị kém em. Ngay cả thi tốt nghiệp phổ thông cũng không có vai trò quan trọng như ở Việt Nam hay ở Châu Âu. Có thể nói, nhà trường ở Mỹ là nhà trường không nhằm mục đích thi cử.


3.Chuyện ngược đời thứ ba là các trường phổ thông của Mỹ không có sách giáo khoa chung trong cả nước. Việc lựa chọn các loại sách để dạy trong nhà trường thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên trách địa phương và nhà trường, nhưng vai trò cá nhân của giáo viên và ý kiến của phụ huynh cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, cuối tháng 9 năm 2003, khi tôi vừa đến Normal, cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Hoa Kỳ đoạt giải Nobel John Steinbeck, "Of Mice and Men" (Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu dịch là "Của chuột và người"), cùng hai tác phẩm kinh điển khác là "The Adventures of Huckleberry Finn" (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Mark Twain và "To Kill a Mockingbird" (Giết chết một con chim Mocking) của Harper Lee, bị cha mẹ học sinh các trường trung học phản đối và đòi đưa ra khỏi chương trình văn học. Hai trường trung học Normal Comunity High School và Normal West High School phải thành lập một chuyên ban, bao gồm hiệu trưởng, một chuyên gia thông tin đại chúng và một giáo viên, để nghiên cứu và trả lời phụ huynh học sinh. Bà Tripp, phụ huynh học sinh và là tác giả một trong hai lá thư khiếu nại, phê phán cuốn sách của John Steinbeck là chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ thô tục và báng bổ, "không thể hiện các giá trị truyền thống", "gây phản cảm" đối với con gái bà. Đây không phải là trường hợp cá biệt. Năm 1992, khi một nhóm độc giả ở bang Ohio chỉ ra 108 chỗ tục tĩu, 12 chỗ chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc và 45 đoạn báng bổ Chúa, cuốn sách này đã bị buộc đưa ra khỏi chương trình của một trường phổ thông địa phương. Ngay sau đó, 150 nhà giáo, sinh viên và phụ huynh học sinh đã tổ chức một cuộc hội thảo ca ngợi giá trị của cuốn sách, cuối cùng nó được đưa trở lại chương trình. Mùa hè năm 2003, Hội đồng giáo dục quận Coffee County (Bang Georgia) cũng phải tiến hành thẩm định vấn đề "ngôn ngữ dung tục" của cuốn sách "Of Mice and Men" khi có khiếu nại của một số phụ huynh học sinh. Đầu năm 2003, Hội đồng nhà trường quận George County ở Lucedale (Bang Mississippi) đã nhất trí loại "Of Mice and Men" cùng hai cuốn sách khác ra khỏi chương trình.


4.Chuyện ngược đời thứ tư là coi nhà trường nhưdoanh nghiệp. Nếu như ở Việt Nam, cho đến nay thương mại hoá giáo dục vẫn gây tranh cãi và bị nhiều người coi là tồi tệ, thì ở Mỹ nó đang tồn tại như một cái gì đó hết sức tự nhiên.

Khác với Việt Nam, các trường đại học Mỹ nói chung không có thi đầu vào. Quan điểm của họ rất đơn giản: học tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác nhau. Nhờ vậy, tất cả những ai có chí đều có thể có cơ hội, ngược lại quốc gia cũng không bỏ phí nhân tài. Vào thập kỷ 1960, số học sinh Mỹ tốt nghiệp phổ thông học tiếp lên đại học chiếm tỷ lệ 60%. Hiện nay, tỷ lệ này có giảm đi, nhưng vẫn đứng đầu thế giới. Nhưng muốn học, phải trả tiền. Khi anh bỏ tiền để mua kiến thức, anh sẽ có ý thức về việc học tập hơn. Còn nếu anh trả tiền mà không học, tức không nhận kiến thức, thì đó cũng là quyền của anh.

Nói vậy, nhưng việc đăng ký học cũng không phải hoàn toàn chỉ có chuyện tiền nong. Một số trường nổi tiếng khá kén chọn sinh viên. Một số bang cũng ưu tiên nhận sinh viên từ bang mình. Còn đối với sinh viên nước ngoài, điểm thi tiếng Anh (TOEFL) đặc biệt quan trọng. Trường Đại học Y khoa là một ngoại lệ. Muốn vào trường, sinh viên phải có bằng tốt nghiệp đại học thuộc một số ngành như sinh hoá, sinh vật...Chương trình kéo dài 4 năm nữa, sau đó phải thực tập từ 2 đến 4 năm. Như vậy, để hành nghề chữa bệnh, cần phải học và thực tập từ 10 - 12 năm!

Việc học tập ở Mỹ rất tốn kém. Mức chi tiêu tối thiểu của một sinh viên ở các trường công, vào khoảng 10 ngàn USD/năm, còn ở các trường tư khoảng 35 ngàn USD. Vì thế, trừ một số người được nhận học bổng hoặc gia đình giàu có, sinh viên Mỹ hầu hết vừa học vừa làm, một số làm việc ngay tại trường.


5.Chuyện ngược đời thứ năm là bất chấp những chuyện ngược đời vừa kể giáo dục Mỹ vẫn có chất lượng cao nhất thế giới. Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất, nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất, hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất.


Vậy phải chăng chính chúng ta mới là ngược đời?

Ngô Tự Lập


http://dddn.com.vn/7449cat133/nhung-chuyen-nguoc-doi-trong-nen-giao-duc-my.htm

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

thế kỷ Trung Quốc



Thế kỉ Trung Quốc?

Helmut Schmidt – Lý Quang Diệu


Cuộc trò chuyện kéo dài ba ngày mới đây giữa hai chính khách kì cựu, một ở phương Đông và một ở phương Tây: cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu và cựu Thủ tướng Đức Helmut Schmidt (Đảng Dân chủ Xã hội) có thể cung cấp cho người đọc Việt Nam một số góc nhìn tham khảo về những đề tài lớn, đặc biệt về sự dịch chuyển quyền lực, sự phân cực trên thế giới và vai trò của Trung Quốc trong thế kỉ này.

Người dịch

__________________


Helmut Schmidt: Lần đầu tiên đến Bắc Kinh tôi được Hoàng đế Trung Hoa tiếp – hồi đó ngài là Mao Trạch Đông.

Lý Quang Diệu: (cười)

Helmut Schmidt: Mao là một tay tàn bạo.

Lý Quang Diệu: Ông ta là một nhà lãnh đạo chiến tranh du kích lỗi lạc đã giải phóng Trung Quốc. Nhưng ông ta cũng tàn phá Trung Quốc bằng Cách mạng Văn hóa. 18 triệu người chết đói vì phải đem hết dao và muổng ra để luyện gang. Ông ta thật điên rồ. Tưởng giải phóng Trung Quốc xong rồi thì thay đổi thế giới có khó gì.

Helmut Schmidt: Ông ta cho rằng: Cần gì giai cấp vô sản công nghiệp, dùng vô sản nông thôn cũng được.

Lý Quang Diệu: Đúng vậy.

Helmut Schmidt: Nhưng người nông thôn thường không sẵn tinh thần cách mạng.

Lý Quang Diệu: Điều đó tôi không chắc. Ở thời buổi của iPhone, internet và truyền hình toàn quốc bây giờ, người ta rất bất mãn vì thấy nhà mình thì tồi tàn, còn những thành phố duyên hải lại thịnh vượng.

Helmut Schmidt: Thời ông, ai là nhà lãnh đạo chính trị vĩ đại nhất?

Lý Quang Diệu: Đặng Tiểu Bình.

Helmut Schmidt: Tôi đồng ý. Đặng Tiểu Bình là nhà lãnh đạo chính trị vĩ đại nhất trong tất cả những người tôi từng gặp.

Lý Quang Diệu: Người có một mét rưỡi, nhưng tầm vóc chính trị thì khổng lồ.

Helmut Schmidt: Năm 1983 tôi có một buổi trò chuyện với ông ấy. Hai chúng tôi và một người phiên dịch, khi đó chúng tôi đã quen nhau gần mười năm, nên nói chuyện khá cởi mở và thành thật. Tôi giễu cợt rằng nhìn kĩ vào thực tế thì những người cầm quyền ở Bắc Kinh không được trung thực lắm; họ tuyên bố mình là cộng sản, nhưng thực ra thì họ theo Khổng giáo. Đặng có vẻ hơi sốc một chút, mất vài giây, nhưng sau đó thì ông ấy đáp lại bằng vỏn vẹn ba từ. Ba từ đó là: “Thì đã sao?” (Lý Quang Diệu cười). Tôi công nhận Đặng là một người vĩ đại.

Lý Quang Diệu: Ông ấy có tinh thần cầu thị. Ông ấy đến thăm Singapore, thấy một hòn đảo nhỏ bé không có tài nguyên gì nhưng thịnh vượng, đầy của cải, mọi người đi mua sắm, trong túi rủng rỉnh tiền. Ông ấy quan sát, đặt những câu hỏi chính xác và đi đến kết luận rằng chính sách đầu tư cởi mở của chúng tôi đã đem lại công nghệ và những thị trường mới. Trở về Trung Quốc, ông ấy lập ra sáu đặc khu kinh tế theo mô hình Singapore. Ông ấy thành công và mở cửa Trung Quốc dần dần. Điều đó đã cứu Trung Quốc.

Helmut Schmidt: Thế kỉ 20 được gọi là thế kỉ Hoa Kì. Thế kỉ 21 liệu có là thế kỉ Trung Quốc không?

Lý Quang Diệu: Về tổng sản phẩm nội địa thì đúng. Đến năm 2035, GDP của Trung Quốc sẽ lớn hơn của Hoa Kì. Còn về Quyền lực Mềm (Soft Power), về sức hấp dẫn đối với kẻ khác thì tôi không chắc lắm, vì Hoa ngữ là một trở ngại cho bất kì ai muốn hội nhập với Trung Quốc.

Tuần báo Zeit: Người ta đang nói nhiều đến sự “dịch chuyển toàn cầu”, từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Có phải Đại Tây Dương đã thuộc về quá khứ và Thái Bình Dương là tương lai không?

Lý Quang Diệu: Không, theo tôi không nên đánh giá như vậy. Tôi tin rằng từ góc nhìn của đa số người Mỹ hiện nay, châu Âu là một đồng minh khá chắc chắn. Vấn đề của Mỹ sẽ là Trung Quốc. Vậy sự dịch chuyển đó có nghĩa gì? Có nghĩa là Mỹ phải tập trung đầu tư kinh tế và các hoạt động quân sự vào khu vực Thái Bình Dương. Nhưng không có nghĩa là dịch chuyển quyền lực trên thế giới. Mà có nghĩa là Mỹ hướng tiêu điểm vào một sự đe dọa mới cho vị trí bá quyền của mình.

Helmut Schmidt: Đúng, nhưng vị trí bá quyền của Mỹ sẽ không còn áp đảo như ở cuối thế kỉ 19 và trong suốt thế kỉ 20 nữa, nó sẽ dần dần yếu đi, Trung Quốc sẽ dần dần mạnh lên và Nga thì càng ngày càng không thay đổi. (Lý Quang Diệu cười.)

Lý Quang Diệu: Tôi đồng ý với điểm cuối. Đúng, Trung Quốc sẽ mạnh lên, nhưng sẽ không thể bá quyền tới mức kiểm soát được Thái Bình Dương.

Helmut Schmidt: Không, sẽ rất lâu. Phải mất hơn một thế kỉ.

Lý Quang Diệu: Điều đó không thể xảy ra.

Helmut Schmidt: Tôi không chắc là điều đó có thể xảy ra không, nhưng trong thế kỉ 21 này thì không thể.

Tuần báo Zeit: Một trong những thành công to lớn nhất của châu Âu là giờ đây nó đã trở thành một châu lục hòa bình. Có thể nói rằng châu Âu đã biết học từ lịch sử. Còn châu Á thì sao? Giữa Trung Quốc và Nhật Bản vẫn còn nhiều căng thẳng. Rồi còn đủ thứ lò bạo loạn khác: Triều Tiên, Đài Loan, Kashmir.

Lý Quang Diệu: Ở châu Á có những quyền lợi quốc gia riêng biệt đang xung đột nhau. Có hai động lực chính thúc đẩy. Thứ nhất là nền kinh tế Trung Quốc có một quy mô nuốt chửng các nền kinh tế của Nhật, Hàn Quốc và những nước châu Á khác. Thứ hai là sự tự tin mỗi ngày một lớn của Trung Quốc. Càng giầu và mạnh lên thì người Trung Quốc càng tự tin. Vì thế các nước châu Á khác muốn Mỹ hiện diện ở đây để giữ thế thăng bằng.

Helmut Schmidt: Theo tôi biết thì vào khoảng năm 1500 nền văn minh Trung Quốc, gồm cả các ngành khoa học của nó, vượt xa nền kĩ thuật châu Âu ở thời điểm ấy. Sau đó châu Âu dần dần phát triển một thứ gọi là dân chủ, cái mà người Mỹ gọi là chủ nghĩa tư bản, cái mà người Mỹ ngày nay gọi là responbility to protect, “trách nhiệm bảo hộ”, mà theo họ là việc bảo hộ nhân quyền ở các quốc gia khác. Tôi có cảm giác châu Âu coi ba yếu tố đó là những thứ có thể áp dụng ở mọi nơi. Và tất nhiên là người Trung Quốc, người Singapore và một loạt các dân tộc khác, thí dụ ở thế giới Ả-rập, không tán thành như vậy. Công nghiệp hóa thì họ sẵn lòng tiếp nhận, nhưng dân chủ thì không, và họ không sẵn lòng tiếp nhận nhân quyền.

Lý Quang Diệu: Người Nhật, người Trung Quốc và cả người Hàn Quốc không cho rằng nhiệm vụ của họ là bảo người khác phải thay đổi điều gì để cai quản đất nước tốt hơn. Họ bảo, đó là chuyện của bạn. Tôi làm ăn với bạn trên nền tảng trung lập. Tôi không tìm cách thay đổi bạn. Phương Tây có khuynh hướng truyền đạo, các vị cho rằng hệ thống của các vị có giá trị toàn cầu: dân chủ và nhân quyền. Ở Ấn Độ, vì một lí do lạ lùng nào đó, dân chủ đã cắm rễ nhưng nhân quyền thì không, những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất diễn ra ở Ấn Độ. Ở Trung Quốc, ý tưởng về nhân quyền vừa mới được nhen nhóm, trong khi ý tưởng về nhà nước đứng trên tất cả và bất khả xâm phạm thì vẫn còn rất mạnh.

Helmut Schmidt: Hệ thống Khổng giáo mà theo tôi vẫn còn tồn tại có một ưu thế lớn, vì nó hầu như không bao hàm những khía cạnh tôn giáo.

Lý Quang Diệu: Đúng thế. Cho nên ở Trung Quốc người ta cũng không đánh nhau vì những vấn đề tôn giáo.

Helmut Schmidt: Đó là một ưu thế lớn. Lòng hăng say truyền đạo của người Mỹ theo Thiên Chúa giáo – không biết cơ sở của nó là ở chỗ nào trong Kinh thánh, có lẽ cũng nên tìm hiểu. Thực ra nó không bám rễ sâu lắm trong đó.

Lý Quang Diệu: Nhưng đặc điểm văn hóa của dân Mỹ và các nhà lãnh đạo họ là muốn giáo dục chính phủ các nước khác. Theo tôi phương Tây có cái nhu cầu tự cho rằng mình đã giác ngộ và muốn người khác cũng giác ngộ như mình. Nhưng cũng có thể nhìn nhận động cơ đó theo hướng tích cực – rằng phương Tây muốn thay đổi thế giới, biến nó thành một thế giới tốt đẹp hơn.

Helmut Schmidt: Đúng.

Lý Quang Diệu: Mặt khác cũng có thể coi đó là thái độ ngạo mạn, các vị cho hệ thống của mình là ưu việt, và các vị muốn ép chúng tôi phải tiếp nhận.

Tuần báo Zeit: Những quyền con người nào thì có giá trị phổ cập và những quyền nào thì không?

Lý Quang Diệu: Quyền được sống theo ý mình của mỗi cá nhân; quyền an toàn cho chính mình và gia đình mình của mỗi cá nhân; quyền có việc làm, được đào tạo và chăm sóc y tế của mỗi cá nhân và con cái được học hành – tôi nghĩ rằng những quyền đó người Trung Quốc sẽ chấp nhận. Nhưng đòi được có một phiên tòa xét xử trước khi bị kết án hoặc tống giam, quyền đó không có trong hình dung của họ. Họ quyết định kẻ nào là mối nguy cho xã hội rồi tống vào tù.

Zeit: Còn các quyền tự do hội họp, tự do chính kiến và tự do tôn giáo?

Lý Quang Diệu: Trung Quốc rất hạn chế quyền tự do hội họp.

Tuần báo Zeit: Vậy phương Tây có nên bảo vệ quyền đó không?

Lý Quang Diệu: Phương Tây có thể can thiệp bằng cách nào nhỉ?!

Tuần báo Zeit: Chính dân Trung Quốc đã đòi những quyền này. Năm 1989, những người biểu tình đã dựng một bản sao bức tượng “Nữ hoàng Tự do” ở Quảng trường Thiên An Môn.

Lý Quang Diệu: Vâng, nhưng họ là những chàng trai trẻ rất lãng mạn, và cuối cùng thì họ bị cắt đầu hoặc bắn sang Mỹ. Và dân chúng chỉ coi đó là một sự kiện nhất thời.

Helmut Schmidt: Dù đã già, cá nhân tôi vẫn sẵn sàng tự tay chống lại những kẻ tước đoạt quyền của mỗi con người, không chỉ riêng quyền được sống mà tất cả các quyền. Nhưng tôi dứt khoát không can thiệp vào một quốc gia khác để bảo vệ quyền con người ở đó. Phải nói là tôi rất sợ cái khái niệm “trách nhiệm bảo hộ”.

Lý Quang Diệu: Như ở Lybia – ném bom diệt được một nhà độc tài thì cuối cùng lại sinh ra nhiều vị chỉ huy quân đội cỡ nhỏ mà mỗi vị đều sẽ thành một nhà độc tài.

Tuần báo Zeit: Không có trường hợp nào mà ông thấy “trách nhiệm bảo hộ” là phản ứng chính đáng hay sao? Như trường hợp Khmer Đỏ ở Campuchia, hay trường hợp diệt chủng ở Ruanda?

Lý Quang Diệu: Tôi tin rằng ngày nay trên bình diện quốc tế, diệt chủng là không thể chấp nhận. Nếu giết người vì lí do chủng tộc hoặc nếu một chủng tộc bị đem ra trừng phạt thì can thiệp là chính đáng. Đặc biệt trong trường hợp một nước lớn trừng phạt một nước nhỏ. Nếu không thì thế giới này sẽ thành vô luật pháp.

Helmut Schmidt: Nhưng cái “trách nhiệm bảo hộ” ấy có nguy cơ phình ra vô hạn. Có lẽ chúng ta có lí do chính đáng để bảo vệ người dân ở Ruanda. Nhưng điều đó quá phức tạp, nên chúng ta đã không làm. Có thể là chúng ta có bổn phận đạo đức phải hành động, cũng như đối với người dân ở Chechnya. Nhưng chúng ta đã không làm. Có thể trong trường hợp vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn, chúng ta có bổn phận hành động. Nhưng chúng ta đã không làm. Chúng ta chỉ tuân theo cái bổn phận đó trong các trường hợp dễ thực hiện hoặc nếu được lợi thế tuyên truyền.

Lý Quang Diệu: Trong thực tế, phải khả thi thì mới hành động được. Không thể can thiệp vào vụ Thiên An Môn, vì như thế là gây hấn với một thế lực cực lớn. Còn Ruanda – tôi tin rằng Mỹ ân hận là đã không can thiệp.

Helmut Schmidt: Ông có ân hận là chúng ta đã không can thiệp không? (Im lặng khá lâu)

Lý Quang Diệu: Nếu ông muốn biết tôi có đồng ý gửi quân đi để ngăn hai phe xung đột không thì tôi xin nói là không. Còn nếu ông muốn biết rằng theo tôi, việc người Mỹ không can thiệp có sai không thì tôi xin trả lời rằng có, việc đó là sai.

Helmut Schmidt: Tôi tin rằng ông ý thức rõ tính đạo đức nước đôi trong câu trả lời vừa rồi.

Lý Quang Diệu: Vâng, tôi ý thức rõ.

Tuần báo Zeit: Phương Tây đã chế ngự thế giới suốt 500 năm. Giai đoạn lịch sử đó đang kết thúc. Thời đại nào sẽ bắt đầu? Thế kỉ Thái Bình Dương?

Lý Quang Diệu: Tôi không chia sẻ cách nhìn nhận thế kỉ này là Thế kỉ Thái Bình Dương. Tôi tin rằng đó sẽ là một thế kỉ mà Trung Quốc và Mỹ sẽ vượt qua Thái Bình Dương mà cạnh tranh. Nếu châu Âu đủ khả năng liên kết thì thế giới sẽ gồm ba cực. Và thêm Nga – nếu họ hồi phục – đó sẽ là một thế giới bốn cực. Trọng điểm của thế giới đã chuyển từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Đúng như vậy. Đừng nên quên rằng 300 năm trước, GDP của Trung Quốc đã chiếm gần 50 % của toàn thế giới và hiện nay đang dần dần tiến đến mức đó, chỉ trừ trường hợp nội bộ Trung Quốc có biến động gì đó.

Tuần báo Zeit: Có nghĩa là Trung Quốc không trỗi dậy, mà Trung Quốc hồi sinh?

Lý Quang Diệu: Gọi thế nào thì tùy, đó là một Trung Quốc mạnh hơn, với một tiếng nói vang to hơn trên nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau và một sức mạnh quân sự to lớn hơn để không cho kẻ nào tiến gần đến biên giới quốc gia.

Helmut Schmidt: Tôi có cảm tưởng rằng cái khái niệm dịch chuyển trung tâm quyền lực từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương này có xuất xứ từ Mỹ, và hình như nó được dùng để biện minh cho sự dịch chuyển của những mũi tiến và cứ điểm của hải quân và không quân Hoa Kì. Hiện nay Mỹ có một cứ điểm không quân ở Úc, một hạm đội thường trực có thể kiểm soát từ Vịnh Ba Tư, Ấn Độ Dương, Biển Hoa Đông, Biển Đông đến các vùng duyên hải Canada. Theo tôi thì người Mỹ đang cường điệu. Còn châu Âu, nếu không có cuộc khủng hoảng tài chính khiếp đảm năm 2008 thì tôi vẫn đang lặp lại câu quảng cáo rằng chúng ta đang tiến tới một thế giới ba cực, gồm Trung Quốc, Hoa Kì và châu Âu.


Phạm Thị Hoài lược dịch
Nguồn: Lược dịch từ nguyên bản tiếng Đức “Wie chinesisch wird die Welt?”, Matthias Nass thực hiện, Die Zeit số 57, ra ngày 06-9-2012
Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra

(19.09.2012)



tội cho dân



xin lỗi quý bằng hữu, hôm rày bận rộn túi bụi nên không có ý tứ gì để mà mần một vài câu "hài chắc cú" cho đỡ quạnh quẽ. Đành sao lại mấy bài viết của thiên hạ... cho bớt cay cú. Đường còn dài, sẽ còn nhiều điều thú vị để nếm trãi. Mong tất cả cứ bình an.


Thứ Tư, 26/09/2012, 09:01 (GMT+7)

Tội cho dân

TT - “Dân nên chia sẻ và hi sinh cho thủy điện!”. Đó là phát biểu gây “chấn động” của ông Trần Văn Hải - trưởng Ban quản lý dự án thủy điện 3, chủ đầu tư thủy điện Sông Tranh 2 - sau chuỗi động đất xảy ra, với lý do: “Chúng tôi luôn sẵn sàng chia sẻ với người dân và mong người dân cũng phải chia sẻ cho chúng tôi”.
Một “chấn động” khác là trong cuộc họp ngày 12-9, tiến sĩ Ngô Thị Lư (Viện Vật lý địa cầu) đã chê dân là “quá kém hiểu biết, chỉ mới nghe động là đã dắt trâu bò, gói ghém đồ đạc bỏ chạy”.

Khi kêu gọi người dân chia sẻ thì chủ đầu tư cũng đã thoái thác trách nhiệm của mình đối với người dân bằng cách đánh bùn sang ao, khi cho rằng những ngôi nhà bị nứt kia chưa hẳn là do động đất mà do người dân xây tường mỏng, nền mỏng hoặc quá nông(?!). Nói như vậy cũng không khác nào trách người dân “kém hiểu biết”, khi xây nhà không đảm bảo chất lượng để xảy ra lún, nứt. Và bây giờ lại vin vào cớ động đất để bắt chủ đầu tư phải bồi thường, do đó theo lời ông Hải, khi xem xét bồi thường cho dân, đơn vị này sẽ “đánh giá một cách thận trọng”. Quả là chua xót khi người dân bị chủ đầu tư “đánh giá” như vậy!

Phóng viên một tờ báo khi trở lại Trà My thì người dân bảo họ bây giờ đang cô độc lắm. Mấy trận động đất trước nhỏ, nhưng bà con thấy đỡ lo vì có đoàn công tác của trung ương, của tỉnh vào kiểm tra. Còn bây chừ, động đất mạnh hơn, nhà cửa thì nứt, chỉ thấy chính quyền tập cho dân đối phó khi có thảm họa động đất xảy ra. Dân còn bảo trước khi triển khai thủy điện Sông Tranh 2, cán bộ ở tỉnh và Ban quản lý dự án thủy điện 3 đến họp dân tuyên bố hùng hồn, như một tờ báo mạng đã trích dẫn: “Xong thủy điện Sông Tranh 2, bà con ở Trà My không còn nước miếng đếm tiền”(?). Còn bây giờ, người dân nơi đây bảo họ quả thật không còn nước miếng nữa, vì họ đã kêu gào khản cả cổ rồi.

Khi di dời người dân để làm thủy điện, “bánh vẽ” được chủ đầu tư đưa ra làm mồi. Khi xảy ra động đất thì người dân lại trở thành nguyên nhân gây dư luận xã hội không tốt khi nhìn về thủy điện Sông Tranh 2 và kêu gọi người dân biết thân biết phận, biết hi sinh biết chia sẻ. Khi bồi thường cho dân, chủ đầu tư lại thận trọng vì biết đâu dân lại “lừa” mình. Cứ nghĩ về dân như vậy, quả là tội cho dân quá. Sống chung với động đất vốn đã khổ, nghe lời “nghịch nhĩ” dân càng khổ hơn.

NGUYỄN PHAN

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/513250/Toi-cho-dan.html



Còn gì nữa mà hi sinh!

173 là số phản hồi bạn đọc chỉ trong một ngày sau phát biểu của ông Trần Văn Hải - trưởng Ban quản lý dự án thủy điện 3, chủ đầu tư thủy điện Sông Tranh 2: “Dân nên chia sẻ và hi sinh cho thủy điện!” (Tuổi Trẻ ngày 25-9). Bạn đọc bày tỏ sự bức xúc về cách trả lời của ông Hải. Bạn đọc cho rằng không thể nào hiểu được đến giờ phút này ông Hải vẫn có thể đòi hỏi dân hi sinh thêm trong khi họ đã chịu đựng và hi sinh quá nhiều.

Những người trong cuộc cũng hết sức bức xúc khi đọc phần trả lời của ông Hải. Bà Hồ Thị Xin - thôn 2, xã Trà Đốc, Bắc Trà My - phản ứng: “Tôi nghĩ ông Hải nói nhầm. Nói chúng tôi chia sẻ, còn gì nữa mà chia. Đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, mọi thứ chúng tôi giao lại cho thủy điện hết rồi. Đi đến một nơi ở mới với bao nhiêu biến cố. Giờ còn gì mà hi sinh nữa. Chỗ ở này, cái nhà này cũng sẽ sập lúc nào chưa biết. Ngày mai chúng tôi chưa biết sống thế nào, hỏi làm sao sẻ chia?”.

Không giấu vẻ thất vọng, bà Nguyễn Thị Huyền Thi - giáo viên Trường THPT Bắc Trà My - cho biết đã nghe đài truyền thanh huyện đọc nguyên văn bài phỏng vấn ông Hải trên báo Tuổi Trẻ. “Thất vọng là bởi cách suy nghĩ của nhà đầu tư e rằng quá đơn giản và tôi có cảm giác họ chỉ biết họ, chỉ biết bảo vệ quyền lợi của họ, còn người dân với trăm mối lo toan thì họ không đề cập. Điều người dân chúng tôi cần hơn cả là liệu khi động đất lớn hơn xảy ra thì đập thủy điện có an toàn không?” - bà Thi nói.

Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My Đặng Phong bày tỏ: “Tôi không đồng tình với ý kiến của ông Hải. Bao nhiêu việc xảy ra với người dân. Bao nhiêu chuyện đến với địa phương từ ngày có thủy điện, đòi hỏi người dân hi sinh gì nữa. Hi sinh cho đất nước này thì dân Bắc Trà My có tiếc gì, nhưng vì một cái thủy điện, vì một doanh nghiệp gây xáo trộn đời sống chúng tôi hỏi còn gì hi sinh nữa”.

 TẤN VŨ - ĐĂNG NAM

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/513249/Ngo-ngang.html



Thứ Tư, 19 tháng 9, 2012

tưởng nhớ một người thầy



Tưởng nhớ một mgười thầy trong Đạo: Tì kheo Thích Minh Châu
Giáo sư Trần Ngọc Ninh

Tôi được biết tin Tỳ kheo Thích Minh Châu đã viên tịch ở Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 2012, thọ 95 tuổi.

Tin báo đến không trực tiếp hay qua dây nói, mà từ hai người báo tin mà tôi coi như em trong lòng, đã không muốn làm rộn tôi những tháng năm mai danh ẩn tích cuối đời. Nhưng trong thực tế, cái nghiệp dạy học của tôi không dứt được. Tôi ngưng sự giảng dạy y khoa và bỏ nước, bỏ tất cả cái sự nghiệp nghiên cứu và truyền thụ y học vô tận khi được lệnh phải hạ thấp cái học và cái biết của các y sĩ tương lai xuống mức độ bệnh kiết lị, bệnh sán lãi (mà người ta gọi là y tế nhân dân). Tôi rũ bỏ hết, chỉ đội một cái nón lá trên đầu mà xuống thuyền vì tôi nghĩ rằng nếu tôi đi tu thì phải tới được Chánh Đẳng Chánh Giác dầu có phải qua vạn kiếp khổ, nhưng bảo rằng ngừng thì không, không và không. Sự biết lỏng là đầu mối của rất nhiều khổ đau. Lúc ấy, tôi chỉ mới tu được có mười năm.

Mười năm trước là cái duyên gặp gỡ của tôi với Thượng tọa Minh Châu

Trước đó nữa, tôi chỉ được nghe nói rằng Trường Cao cấp Phật học Việt Nam ở chùa Ấn Quang, đường Sư Vạn Hạnh, Sài Gòn, nơi mà anh tôi Trần Ngọc Lập, bút danh Trần Việt Sơn, có được mời tới giảng dạy, về pháp gì trong Đạo Phật tôi cũng không biết; rằng ở trường có hai vị Thượng tọa đã đậu Tiến sĩ Phật học ở Tu viện Nalanda Ấn Độ, lúc ấy đang là Giáo sư. Một trong hai vị này và là người đầu tiên trong thời nay đã đi chiêm bái, tu học và thỉnh kinh từ Thiên Trúc về ViệtNam, là Thượng tọa Minh Châu.

Đạo Phật đã sinh ra ở Ấn Độ, chính thức là do Đức Cồ Đàm (Gotama) mà ta tôn thờ là Phật tổ Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni) nhưng ngài chỉ xưng danh là Tathagatha Đức Như Lai, là “Đã Đến“. Ngài là Đã Đến, là Như Lai, trước hết là vì trước Ngài, đã có hằng ha sa số Phật, mỗi Phật đã chỉ xuất hiện trong một chớp mắt ở một hạt bụi của vũ trụ (như trái đất), ở đó sự sống đã làm thành những sinh vật gọi chung là “Con Người” đã đạt được những khả năng đi vào đường Đạo mà thoát khỏi cái khổ phải bám vào những cơ cấu của vật chất để tưởng rằng mình có một cái “Tôi“, một bản thể, một Être, một Sein, một Being, một không tưởng vô thường.

Đức Phật gọi “Cõi người ta” là cõi Ta-bà (Saha) nó chỉ chứa sự sống cho tới khi nào mặt trời hết nguyên liệu để cho nổ liên tục những trái bom nhiệt hạch (Thermo-nuclear bombs). Ở những Thế giới khác, những Lokadhatu mà Ni I.B.Horner dịch là hệ thiên hà (galactic system) chứ không phải là hệ định tinh như hệ mặt trời (solar system), có thể trong một kiếp (kappa), một a tăng kì kiếp (asankheyya) một đại kiếp (Mahakaffa), tính bằng triệu, tỉ hay nghìn tỉ năm mặt trời của cõi Ta-bà, may mắn lắm thì có một Đấng Toàn Giác xuất hiện thành Phật và dạy người đời để bước vào Chánh đạo. Kinh Buddavamsa (Phật phả) nói rằng trong khoảng bảy vô lượng kiếp này đã có Đức Difankara (Nhiên Đăng) là Đức Phật thứ bốn; ngài đã thụ kí cho một thầy tu kín tên đời là Sumedha (Thiên Huệ) đã rời lều cỏ bay đến xõa tóc và nằm phục dưới chân Phật để cầu có thể đốt cháy được hết các chấp kiến không cho mình ngộ được Bồ đề Toàn giác.

Qua đi một trăm ngàn kiếp và vô lượng kiếp với hai mươi ba đời Phật, Đức Sumedha đã thành một Bồ tát (Bodhisatta) có tên đời là Narada và đã từ cõi trời Đâu-suất Tusita xuống cõi trần đầu thai làm người với cái tên là Gotama, thành đạo, đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samyaksambodhi, A-nậu-đa-la Tam-miệu (muội) Tam bồ đề). Nhưng Bồ tát vẫn giữ nguyên cái thân phận con người, bố thí tất cả cuộc đời còn lại của mình để dạy những ai muốn theo; hàng năm đi chân không từ Bắc Ấn xuống Nam Ấn rồi lại ngược lên trước mùa mưa gió, vào sâu trong các làng để khuyến giáo và khất thực trước khi ngồi thiền và giảng giáo lý cho các Tì kheo và Tì kheo ni (nữ đệ tử) của Sangha (Tăng-già, Giáo hội) mà ngài đã cho phép lập nên.

Đức Phật còn tự xưng là Như Lai, đã đến với các môn đồ vì một lý do nữa: là vì có những người đưa ra những nghi vấn về gốc nguồn, về thập thế, về sự tử sinh của Ngài, Phật là người hay là Pháp và có còn hay là mất khi thân hình đã tịch diệt? Như Lai đã đến thực và ngồi đó, nói đó, không phải hỏi đến cái đã qua và cái chưa tới trong cái Thời vô thủy vô chung không bao giờ hết Giáo pháp. Thời của Phật giáo là cái vô hình tướng do các sát-na (Ksama) nối tiếp nhau, có từ trước vụ Nổ Bùng lớn “Big Bang”, nên không gọi được là “thời gian” vì không có giới hạn như “không gian” (space) của vũ trụ hay “thế gian” (world) của người đời.

Tôi được gặp Thượng tọa Thích Minh Châu lần đầu là trong một buổi lễ rất ngắn tại Bộ Quốc gia Giáo dục, đường Lê Thánh Tôn vào năm 1967. Tôi ghi lại theo cái trí nhớ đã đứt khúc trong tuổi già của tôi. Thượng toạ, mặt tròn như trăng rằm, mình mặc một tấm áo cà sa vải vàng, đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tôi đại diện cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trong tư cách Tổng ủy viên Văn hóa Xã hội kiêm Ủy viên Giáo dục, cùng với Ông Ngô Trọng Anh, Ủy viên Công chánh của Chính phủ. Chúng tôi ký cái hợp đồng cho Giáo hội thuê cái cơ sở mới xây bởi Bộ Công chánh trong một thời hạn là 99 năm có thể tiếp diễn, với cái giá tượng trưng là một đồng bạc. Cái Hợp đồng hôm ấy là bản khai sinh của Viện và Trường Đại học Vạn Hạnh.




Hòa thượng Thích Minh Châu
Ảnh http://hoangphap.info/MainPage.aspx?SubID=1&ID=1

Thượng tọa cho tôi biết là Trường Vạn Hạnh đầu tiên sẽ chỉ có hai phân khoa, là Phật học mà Khoa trưởng là do chính Thượng tọa giữ trọng trách, và Khoa Kinh tế xã hội hay Khoa học nhân văn, sẽ nhờ Giáo sư Tôn Thất Thiện làm Khoa trưởng. Những bước đầu sẽ rất là khó khăn, tôi đồng ý nhưng không dám có một lời đóng góp, tuy tôi đã có học về lịch sử các Đại học Âu châu từ thời Phục hưng qua cách mệnh Pháp về những biến động của thời nay, lại đã trải qua công cuộc canh cải nền Giáo dục Đại học Y khoa VN từ 1954 đến 1965. Về tinh thần, triết lý, giáo pháp của Phật giáo thì thực sự là khi ấy tôi mù tịt. Vả lại, lúc đó, tôi cũng còn đang điên đầu về sự xây dựng lại cái hạ tầng cơ sở của nền Giáo dục Quốc gia và việc nâng cao sự học trong nước để có thể cộng tác và cạnh tranh (hai mặt song song) với Quốc tế. Công việc ở bệnh viện và ở Trường Y khoa Sài Gòn tôi cũng không thể rời bỏ được nhưng nhờ có sự giúp đỡ của các Bác sĩ cộng tác viên lại có thêm GS. P. Petit, một thầy cũ của tôi, từParissang dạy đỡ, nên tôi chỉ về bệnh viện những ngày Chủ nhật khi Bộ Giáo dục đóng cửa.

Nhưng ba tháng sau khi rút ra khỏi được Bộ Giáo dục và Tổng bộ Văn hóa Xã hội, thì một buổi sáng nọ có người cầm một bức thư của Thượng tọa Viện trưởng Đại học Vạn Hạnh đến, mời tôi lại Viện, có việc muốn tham khảo. Ông muốn tôi làm một Giáo sư của Viện. Môn gì, ông bảo để tùy tôi chọn. Nhưng tôi chưa từng đọc một câu kinh, nghe một câu kệ và cũng không bao giờ tự mình vào trong cái chùa nào để lạy (lễ) Phật. Mà từ chối mãi không tiện, tôi đành phải nhận một giờ mỗi tuần với một đề tài mà tôi nghĩ rằng sẽ nói tự tâm vì không có sách, là “Khoa học với tôn giáo”, nhưng tôi sẽ chỉ nói về “Tôn giáo trước khoa học”. Nói cách khác, đây là vấn đề “Đạo lý của khoa học”.

Chuyện dạy học của tôi ở Đại học Vạn Hạnh là một Đại học Phật giáo còn có lắm chuyện éo le hay là oái ăm nữa. Tôi không sợ sự tùy tâm và không có sách, là vì từ tuổi nhỏ cho đến khi lớn, cha mẹ và các thầy không dạy mình cái gì thất đức; lúc đã thành người học y khoa, lại thấy tận mắt sự tàn ác của những con người học lầm hay hiểu lầm những học thuyết và những khoa học văn minh, thì đã biết, tự biết. Mà “biết” là /bodh/ diễn thuật từ Sanskrit (Phạn ngữ), căn của danh từ Buddha. Sự biết này không ở trong sách, không ở ngoài tâm. Khoa học của loài người đã lên cao lắm nhưng khoa học mà không có tâm là sự tàn phá của tinh thần.

Sau một năm dạy về khoa học và tôn giáo, tôi dạy về tôn giáo sơ khai và tôn giáo tiền sử, tức là một chương lớn của khoa học tôn giáo. Rồi tôi bị bệnh nặng, liệt giường gần hai tháng. Lúc hồi phục, phải dùng sách và viết bài, tôi dạy Lịch sử Văn minh (của loài người) rồi dạy Lịch sử Văn hóa Việt Nam khi tôi đọc về Ngữ lý Việt ngữ (Linguistique Vietnamienne). Chẳng có một mảy may gì là đạo Phật. Vì khi ấy tôi đã [chưa?] bước vào Đường mà Đức Phật đã chỉ để tới Mặt Trăng. Và vượt Mặt Trăng.

Tì kheo Thích Minh Châu là người đã đẩy tôi lên con đường mà từ đó tôi không ra khỏi

Hai tháng trước ngày Phật Đản, Thượng tọa Viện trưởng tìm tôi và thỉnh tôi diễn giảng về cốt tủy của đạo Phật tại Đại Giảng đường của Viện. Tôi được giải thích rằng đây là lễ Vesak (Tam hợp), không chỉ là ngày Phật Đản sinh, mà là gồm ba ngày là ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập Bát-Niết-Bàn ngày quan trọng nhất của Đạo.

Càng quan trọng thì lại càng không đến cái thứ tôi. Bao nhiêu người giỏi trong Viện cũng như ngoài Viện, tại sao không thỉnh lại gọi đến một anh mù kinh. Tôi không biết gì cả, cái vỏ không có, biết gì đến cái lõi mà nói. Thượng tọa bảo tôi vào thư viện của trường, có khi Phật độ, thấy được chăng?

Nói đến thư viện thì tôi động lòng hiếu kỳ, muốn thấy tận mắt xem thư viện có được bao nhiêu quyển, so với Tứ thư, Ngũ kinh của Khổng mạnh và Nho gia thì được mấy phần, còn đọ với Thư viện Vatican thì chẳng cần nói cũng biết rằng chỉ là lửa đom đóm bên cạnh mặt trời. Tôi tìm đường vào thư viện, cửa mở không khóa. Ở trong, là một cái phòng lớn, đèn thắp sáng ngày đêm, ở góc có một cái bàn nhỏ, có một cô dáng người mảnh mai, mình bận áo ni cô xám, đang ngồi đọc hay dịch kinh. Tôi bước lại, tự giới thiệu, và cô nói “Dạ, thưa tôi biết. Giáo sư cần gì, tôi là Trí Hải, thủ thư của thư viện“.

Tôi học ở Pháp và đã đến những thư viện lớn nhất của nhiều nước, ở nhiều tỉnh và biết rằng thủ thư của một thư viện thường là một học giả am tường rất nhiều điều trong các sách của thư viện. Tôi hỏi cô Trí Hải ở đâu tôi có thể tìm được những lời dạy quan trọng nhất trong Giáo pháp của Đức Phật mà không bị người đời sau trích dẫn hay dịch thuật sai đi. Cô Trí Hải cho tôi biết rằng Thượng tọa Viện trưởng đang dịch Kinh tạng Pali, đã xong hai quyển đầu là Trường bộ kinh (Majjihima-Nikaya), và thư viện còn có những bản dịch Anh văn, Đức văn, Pháp văn và nhiều ngôn ngữ khác (Hoa, Nhật, Hàn, Nga…) tôi là Giáo sư thì có thể mượn sách về nhà để nghiên cứu, cô nói là “tụng niệm”. Đột nhiên tôi nghĩ rằng trong một Giáo lý thì không có một điểm nhỏ nào không hệ trọng, nhưng có một điểm nhỏ trọng đại nhất là điều cuối cùng mà Đức Phật nói ra với các môn đồ trước lúc Người rời cõi trần. Tôi hỏi cô Trí Hải có biết Kinh hay Sách nào nói về những ngày tận cùng của Đức Phật không, thì cô nói ngay “Kinh Đại Bát-Niết-Bàn viết rất rõ“, và cô lấy ra cho tôi cuốn Trường bộ Kinh đầu với bản dịch Anh văn và bản dịch Pháp văn, để tôi đem về và đối chiếu.

Tôi tìm thấy rằng Đức Phật đã bảo các học trò:

“Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác“. Và Ngài còn nói thêm “Trong năm trăm Tỷ kheo này, Tỷ kheo thấp nhứt cũng đã chứng minh được quả Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến Chánh giác (Sambodhi)”.

Thực là những lời khuyến khích và an ủi mạnh mẽ và tươi mát nhất của Đấng Đại Từ Đại Bi cho tất cả các môn đồ đang buồn rầu và lo lắng vì bậc Đạo sư tối cao sắp vĩnh viễn lìa trần mà bản thân mỗi người thì còn đang ngụp lặn trong bể khổ không bờ. Tôi lúc đó, nhìn khắp nước Việt Nam, chỉ thấy những người quê mùa vô tội đang bị lột trần để quay trên lửa đỏ, nhìn ra ngoài thế giới cũng chỉ thấy những người lo lắng và bất lực trước sự đe dọa của một cuộc chiến tận thế. Còn chính mình thì mới chỉ được một giọt nước rớt xuống từ một cành dương liễu mảnh mai. Những câu nói trên mà tôi thấy trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường bộ Kinh, tôi mới chỉ hiểu một cách mập mờ và dịch ra tiếng ta đời nay, đại khái là “Tâm Trí của mỗi người, một khi đã được mở ra với Chánh pháp, thì đã là một với Chánh pháp, và là ngọn đèn chỉ con đường sáng, cứ vững lòng, tất cả mọi người đều sẽ tới nơi“.

Thượng tọa Viện trưởng ngồi nghe tôi nói không thốt một câu. Nhưng rồi năm sau đến ngày Phật Đản, tôi lại có một lời yêu cầu nữa. Tôi đăng đàn và nói về Bát Chánh Đạo, con đường tu tám lằn song song mà tôi ví với cỗ xe tám ngựa, nhưng cả tám con ngựa ấy đều chỉ là ta: Nhìn thế nào, phóng thế nào, chạy thế nào, cân bằng thế nào, thở thế nào, tu thân thế nào, chú tâm thế nào, quyết chí thế nào, phải theo đúng lời dạy. Thượng tọa tiễn chân tôi chỉ nói rằng ít ai dám giảng Bát Chánh Đạo. Tôi nói rằng tôi chỉ mới học mà thôi.

Nhưng năm sau, cái đầu đề còn khó hơn nữa. Thượng tọa muốn tôi nói về triết lý Cổ Ấn trong thời Đức Phật.

Buổi đầu tôi nói chuyện ở Viện Đại học Vạn Hạnh, có chừng ba bốn chục người đến nghe, tất cả đều lễ phép, không ai bỏ ngang về. Buổi thứ nhì, được năm sáu mươi, với vài vị sư áo vàng. Buổi thứ ba, nói về triết học Cố Ấn tôi rợn tóc gáy vì Đại Giảng đường chật ních vào khoảng bảy trăm người, với một đề tài rất khô khan khắc khổ mà tôi làm thành một giáo trình cẩn trọng để cho chính tôi.

Thượng tọa Viện trưởng kiên nhẫn ngồi nghe với các thính giả và phê bình rằng bải giảng của tôi giống như một bài giảng của một vị thầy của Đại học Nalanda, nơi Thượng tọa học. Điều này không có gì lạ cả, là vì tuy các sách triết Ấn của GS. Dan Guita và của triết gia Radhakrishnan (link: http://en.wikipedia.org/wiki/Sarvepalli_Radhakrishnan) chỉ nói rất sơ sài về tư tưởng Ấn thời Đức Phật, nhưng kinh Brahmajala, dịch là Phạm Võng, là cái lưới trời mà chính Đức Phật nói cho Tăng già, đã nói hết cả. Triết học trói buộc con người vào sự khổ đau vĩnh cữu.

Bài diễn giảng cuối cùng cho ngày Vesak của tôi tại Đại học Vạn Hạnh là về “Tư Tưởng xã hội của Đức Phật“. Khi nhận đề tài này, tôi ngơ ngẩn vì chưa hề nghe thấy một người nào hay đọc được trong một cuốn sách nào của Anh, Pháp, Đức, Ý, Nga về Đức Phật xã hội. Nhưng tôi được biết rằng sau khi đã bị tất các Đạo lớn từ chối, Tiến sĩ người Ấn độ Ambedkar đã được Phật giáo, khi mới trở lại quê hương Ấn Độ, cho phép làm một buổi lễ lớn nhận một triệu người cùng đinh bị ruồng bỏ được quy y Phật, và chính ông cũng bỏ đạo cũ để thờ Đức Phật. Rằng Phó thủ tướng Anh và Chủ tịch Đảng Xã hội là Atla, sau khi đi dự Đại hội của Đảng Xã hội Miến (Myanmar, tức Burma), đã tuyên bố rằng có một đảng xã hội Á châu đặt chủ thuyết trên lòng từ bi của Đức Phật và bỏ thuyết tranh đấu giai cấp, rằng chính sách kinh tế của Canada nói rằng chủ trương trung đạo theo Giáo pháp (Dharma) của Đức Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng để diễn giảng về tư tưởng xã hội của Đức Phật thì là một chuyện khác. Tôi lại về nhà và mỗi tối đọc cho hết năm bộ của Kinh tạng để nhặt ra những lời dạy của Phật tổ về những chế độ và tập quán trong xã hội Bà La Môn Giáo. Và tôi sáng mắt lên [trước] những ý tưởng tân tiến của Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác hơn hai ngàn sáu trăm năm trước.

Bài giảng của tôi năm ấy đã được GS. Trần Văn Từ dịch ra Anh văn, rồi lại được bà Celia Barclay, một nữ sĩ Anh dịch lại rồi lưu truyền trong Đạo Quaker là một Giáo phái Thiên chúa giáo rất uy tín ở Anh Quốc. Tôi cũng dùng bài này làm nền móng cho một cuốn sách nhỏ của tôi, tựa đề là “Đức Phật giữa chúng ta“. Tôi nghĩ rằng thế giới hiện đại có thể được sáng hơn (enlightened) nếu được nghe lại những lời Phật dạy.

Trong những năm này, ngày đêm tôi học Phật và Đức Như Lai vẫn đến với tôi ngoài những lúc tôi phải hành cái nghiệp trong y học và y khoa của tôi. Tôi không được học với Thầy Minh Châu một giờ một khắc nào, nhưng Thầy đã là người tiếp dẫn tôi đến chân Đức Phật, chỉ có năm bước đường và theo đúng lời dạy tối hậu của Người, “Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa“.


GS. Trần Ngọc Ninh

GS. Trần Ngọc Ninh
Nhưng những ước mong của tôi chỉ là vọng ảo. Hiệp địnhParislà kế hoạch chót để làm vỡ Thế giới Đỏ và gây một chiến cuộc mới giữa răng và môi, đồng thời lại thoát thân ra khỏi một vũng lầy chưa bao giờ bị.

Tôi còn gặp lại vị Thầy cũ trong Đạo khi phải ở lại vì những xiềng xích của định mệnh. Năm 1977, Đại học Vạn Hạnh đã bị giải thể, một buổi sáng Chủ nhật tôi đang ngồi đọc truyện giải buồn thì Thầy Minh Châu được chở đến nhà tôi trên một chiếc Honda. Thầy kể rằng Thầy đã về ở Thiền viện Vạn Hạnh tại Phú Nhuận, mỗi ngày thức giấc từ 5 giờ sáng, xuống vườn đi vòng quanh chừng một tiếng đồng hồ rồi trở về tắm gội, ngồi thiền, xong thì ngồi dịch Kinh cho đến tối. Việc dịch Kinh đã thuần thục lắm, chữ nghĩa đã thông thuộc, nhiều khi đọc một câu tiếng Nam Phạn (Pali ngữ) thì tay đã viết ngay câu tiếng Việt.

Thầy đã dịch xong thêm một quyển Tiểu bộ Kinh (Samyutta Nikaya) và muốn tôi đến giới thiệu tập kinh mới với các Phật tử. Lúc ấy, hàng ngày tôi phải đối đầu với những người của chế độ mới để bảo vệ sự học của các sinh viên y khoa và giữ gìn sự an ninh của các bệnh nhân của Bệnh viện nên từ chối và nhắc Thầy rằng Viện Đại học còn có những Giáo sư lớn như Cụ Nguyễn Đăng Thục và GS Vũ Văn Mẫu, xin Thầy thỉnh các vị. Tuần sau, Thầy Minh Châu lại đến cùng với Thầy Hộ Giác, cho tôi biết rằng Ủy ban Nhân dân Thành phố sẽ đến dự buổi ra mắt Bộ Kinh, và hai Giáo sư Nguyễn và Vũ đều không đến, nên nhất định tôi phải có mặt. Tôi đã đến và giảng về Trung Đạo, cái Đạo Giữa của Đức Phật, từ chối những Đường cực đoan. Sau bài giảng, tôi về thẳng nhà và hai tháng sau, bỏ lại hết mọi phiền trọc, cắt đứt mọi kiết sử, vượt biển tới Cù lao (Pulau) Besar để chờ ngày đầu thai ở một cõi sống khác.

Thầy Minh Châu vẫn gửi các Kinh sách của Thầy viết và Kinh tạng dịch từ Pali, bản luận án Tiến sĩ vể Trung bộ Kinh, cuốn tóm lược A-tì Đạt Ma (Abhidhamma), cuốn Tiểu sử Huyền Trang, cuốn Đốt đuốc lên mà đi… sách nào tôi cũng đọc hết, nhập tâm và quên đi.

Tôi tiếp tục đi trên con Đường đã dài hơn hai ngàn sáu trăm năm của Phật pháp. Không còn Thầy, tôi vào Trung luận với Long Thọ (Nagarjuna), vào Duy thức với Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu), vào Thiền Hoa Nhật và Mật tông, không quên các vị ngoại đạo là Lão Tử, Trang Tử, Patanjali, Sankara như Thượng tọa Minh Châu đã muốn tôi làm, và luôn luôn thắp sáng ngọn đuốc tâm mà Đức Phật đã nhóm lên cho mỗi môn đồ khi ngài nhập Đại Bát Niết Bàn

T.N.N.

9/2012

LGT (VB): Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Thạc sĩ Y khoa* Ðại học Pháp, nguyên Giáo sư môn Văn minh Ðại cương và Văn hoá Việt Nam tại Ðại học Vạn Hạnh (Sài Gòn), nguyên Tổng trưởng Văn hoá Xã hội và Ðặc trách Giáo dục trong Chính phủ VNCH; nguyên Viện Trưởng Viện Việt học (California), 3/2003-2/2008.

Ghi chú (*):

Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, [và ngay ở Pháp và châu Âu trước đây], học vị “Thạc sĩ” là một học vị chuyên môn trên Tiến sĩ, dành cho những Tiến sĩ muốn làm Giáo sư đại học (tiếng Pháp: professeurs agrégés des universités).

Nguồn: http://sachhiem.net/VANHOC/TranNgocNinh.php

nguồn:  http://www.boxitvn.net/bai/41325

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

chiệng nhỏ


Securency 'chi tiền mua dâm cho đoàn VN'

Cập nhật: 15:16 GMT - thứ ba, 11 tháng 9, 2012

 Bê bối Securency dính líu việc in tiền polymer ở Việt Nam

Một phái đoàn viên chức chính phủ Việt Nam được trả tiền để mua vui với gái bán dâm trong bê bối hối lộ in tiền polymer, theo lời một nhân chứng trong phiên tòa ở Úc.

Tám cựu lãnh đạo của hai công ty, Securency và Note Printing Australia, đang hầu tòa vì cáo buộc lập quỹ đen và chi hàng triệu đôla để có hợp đồng in tiền ở các nước châu Á, gồm cả Việt Nam.

Ra tòa hôm 6/9, một nhân chứng kể lại vào cuối năm 2007 và giữa năm 2008, ông gặp một đoàn gồm 10 đến 12 viên chức Việt Nam, được công ty Securency đặt cho bí danh “Beanland”.

Ông Gary Power, giám đốc kỹ thuật của Securency, nói với cảnh sát rằng một vị trong đoàn “cho hay buổi tối hôm trước, họ đã thăm các cô gái bán dâm, mà chi phí được ‘ông John’ trả… Tôi không kéo cuộc trò chuyện này đi xa hơn.”

‘Ông John’ ám chỉ David John Ellery, cựu Giám đốc Tài chính của Securency, đã thoát án tù hồi tháng Tám sau khi chấp nhận hợp tác điều tra về vụ bê bối.

Nhân chứng Gary Power nói thêm: “Tôi còn nhớ viên chức này nói ông ta thích một cô gái bán dâm tóc vàng.”

Ông Power, đã làm cho Securency từ năm 1999, nói đó là “khoản chi phí kỳ cục duy nhất” mà ông nghe là Securency đã trả cho đoàn Việt Nam.

Nhưng ông cũng nói mình từng thấy “nghi ngờ và bất thường” khi được kể về việc con trai ông Lê Đức Thúy, cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, được học bổng tại Đại học Durham của Anh.
Trong bản khai, ông nói một lãnh đạo của Securency, Bill Lowther, có quan hệ với Đại học Durham.

Ông cũng nói với tòa rằng phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi đó, bà Nguyễn Thị Kim Phụng, được công ty Úc đặt cho biệt danh là “Suzy mắt đen” (black-eyed Suzy).

Luật sư của một trong các bị cáo, Mitchell Anderson, nói “không có gì gian trá” về các biệt danh.

Tám người từng giữ các chức vụ lãnh đạo ở công ty Securency và Note Printing Australia đã ra tòa hôm 14/8 để nghe chứng cứ chống lại họ trong vụ án tiền polymer.

Phiên nghe lời khai tại tòa án Úc vẫn đang tiếp tục.

nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/09/120911_securency_sex_allegation.shtml