Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

chân dung 100 nhà văn


Published on 10/29,2008
CHÂN DUNG 100 NHÀ VĂN QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ THƠ XUÂN SÁCH

(Nguồn:http://thocon.vnweblogs.com)

1. Hồ Phương

Trên biển lớn mênh mông sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.

2. Nguyễn Đình Thi

Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.

3. Tô Hoài

Dế mèn lưu lạc mười năm
Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.

4. Nguyên Hồng
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say

5. Nguyễn Công Hoan
Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chửa xong bác đã cười.

6. Nguyễn Tuân
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trót lỡ ưu phiền.

7. Huy Cận
Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị gày quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Không nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu!
8. Xuân Diệu
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.
9. Tế Hanh
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.
10. Chế Lan Viên
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi
sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn
Hội nhà văn
11. Nguyễn Thi
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bến cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.
12. Kim Lân
Nên danh nên giá ở làng
Chết về ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.
13. Tú Mỡ
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.
14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn)
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.
15. Hoài Thanh
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan
16. Vũ Tú Nam
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Con về nấp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào:
Văn Ngan
17. Hữu Mai
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.
18. Đỗ Chu
Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò
19. Xuân Quỳnh
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chòi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn
20. Phạm Tiến Duật
Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!
21. Nguyễn Thành Long
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lặng lẽ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên đến lúc già.
22. Đào Vũ
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc đâu rồi mất cả tên
23. Nguyễn Bính
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.
24. Nguyễn Văn Bổng (không có hình ảnh )
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh.
25. Nguyên Ngọc
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu
26. Vũ Thị Thường ( Không có hình ảnh )
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn
27. Quang Dũng
"Sông Mã xa rồi tây tiến ơi"
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người
Áo sờn thay chiếu anh về đất
Mây đầu ô trắng, Ba vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
"Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
28. Mai Ngữ ( Không có hình ảnh )
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ
29. Nguyễn Khải
Cha và con và... họ hàng và...
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát1
30. Hoàng Trung Thông
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
31. Chính Hữu
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.
32. Thanh Tịnh
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay.
33. Chu Văn (Không có hình ảnh )
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mới kéo cày cho xong.
34. Ngô Tất Tố
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia quyền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.
35. Nam Cao
Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.
36. Xuân Thủy ( không có hình ảnh )
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Vonga
Trên đời kim cương là quý nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ chê anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honđa.
37. Lưu Trọng Lư
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vờ ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.
38. Nguyễn Khoa Điềm
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Cất lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a Kai ơi
Ngủ ngon a Kai à...
39. Nguyễn Kiên
Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho.
40. Anh Thơ
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.
41. Xuân Thiều
"Đôi vai" thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
42. Nguyễn Thị Như Trang( Không có hình ảnh )
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ mầu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.
43. Bùi Đức Ái (Anh Đức)
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.
44. Nguyễn Thế Phương( Không có hình ảnh )
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai.
45. Vũ Trọng Phụng
Đã qua đi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.
46. Xuân Thiêm
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.
47. Đào Hồng Cẩm
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc hẳn là trúng nghị viên thôi.
48. Nguyễn Quang Sáng
Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.
49. Hoàng Văn Bổn
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảng đất này hoa héo khô.
50. Phù Thăng
Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.
51. Nguyễn Thị Ngọc Tú
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay
52. Vũ Cao
Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi đừng sang
53. Phan Tứ
Bên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.
54. Nguyễn Huy Tưởng
Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người ở lại
Bốn năm sau khóc oà.
55. Thu Bồn
Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng cháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.
56. Bùi Hiển
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ an khô cằn
Bao nhiêu năm "nằm vạ"
Trước cửa hội nhà văn.
57. Võ Huy Tâm
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tại thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.
58. Nông Quốc Chấn
Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây.
59. Thế Lữ
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.
60. Nguyễn Minh Châu
Cửa sông cất tiếng chào đời
Rồi đi ra những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời
Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?
61. Phạm Huy Thông[img=
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
Liệu Hạng Vũ có lên ngôi hoàng đế
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ
Đời chẳng còn gì, và thơ cũng thế.
62. Giang Nam
"Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm"
"Có những ngày trốn học bị đòn roi"
Nay tôi yêu quê hương về có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.
63. Bằng Việt
Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi đến
Mây che một khung trời
Đất sau mưa sụt lở
Mầu mỡ trôi đi đâu
Còn trơ chiếc guốc vàng
Trăng mài mòn canh thâu.
64. Nguyễn Trọng Oánh
Một chút hương thơm trải bốn mùa
Mười năm lăn lội chốn rừng già
Quay về không chịu ơn mưa móc
Đất nắng mưa rồi đất lại khô.
65. Nguyễn Xuân Sanh
Xưa thơ anh viết không người hiểu
"Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà"
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
66. Thâm Tâm
"Người đi, ờ nhỉ, người đi thật"
Đi thật nhưng rồi lại trở về
Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.
67. Nguyễn Huy Thiệp
Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết tại chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.
68. Phùng Quán
Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác ở trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao.
69. Tố Hữu
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta
Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường, hoa ở đây.
70. Dương Thu Hương
Tay em cầm bông bần ly
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước lúc rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.
71. Hữu Thỉnh
Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
Bị lạc đường về hội nhà văn
Ờ nhỉ bao giờ quay trở lại
Với năm anh em trên một chiếc xe tăng.
72. Trần Bạch Đằng
Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ
73. Nguyễn Duy
Mẹ và em đang ở đâu
Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao dời
Đánh thức tiềm lực suốt đời
Ai?
Chẳng ai đáp lại lời của tôi.
74. Nguyễn Mạnh Tuấn
Anh đã đứng trước biển
Cù lao Chàm kia rồi
Nhưng khoảng cách còn lại
Xa vời lắm anh ơi.
75. Trần Mạnh Hảo
Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ mày ra tay
76. Hoàng Cầm
Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.
77. Lê Lựu
Người về đồng cói người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng, xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái
Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mỹ hai lần
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi
78. Vũ Quần Phương
Anh đứng thành tro... em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi trong vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ.
79. Hữu Loan
Ôi màu tím hoa sim
Nhuốm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà
còn bận làm người
Ngoảnh lại ba mươi năm
Tìm mãi nghìn
chiều hoang
biền biệt
80. Lý Văn Sâm
Kiên Trì dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về với bến xuân.
81. Tản Đà
Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giộc mộng con suốt một thời bơ vơ
Tiếc chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.
82. Lưu Quang Vũ
Cũng muốn tin vào hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết1
83. Hà Minh Tuân
Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?
84. Minh Huệ
Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi
85. Văn Cao
Thiên thai - từ giã về dương thế
Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta
Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ
Uống rượu say rồi hát quốc ca
86. Ma Văn Kháng
Khi xuôi anh mang theo
Đồng bạc trắng hoa xòe
Với một mối tình sơn cước
Mùa lá rụng trong vườn
Năm này qua năm khác
Đám cưới vẫn không thành
Vì giấy gía thú chửa làm xong
87. Vũ Bão
Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đàu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim.
88. Hồ Dzếnh
Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay
Quê nhà vẫn lẩn khuất trong mây
Lui về ký ức chân trời cũ
Uống chén rượu buồn không dám say.
89. Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi
Cái nợ lên xanh rũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi!
90. Phạm Thị Hoài
Dẫu chín bỏ làm mười
hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên số đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.
91. Thanh Thảo

Giặc dã yên rồi về
xoay khối vuông Ru bích
Đoán vận rủi may
Thưa quý vị, xin mời1
Xanh tím trắng đỏ vàng đều rõ hết
Ta cùng vào cuộc chơi.
Không gian bốn năm chiều,
thời gian xin tuỳ thích
Đảo lộn tùng phèo thật gỉa trắng đen
"Tôi như cục xà bông thứ thiệt"
Cứ đổ rượu vào
hình quý vị sẽ hiện lên.
92. Trần Dần
Người người lớp lớp
xông ra trận
Cờ đỏ
mưa sa
suốt dặm dài
Mở đợt phá khẩu
tiến lên
nhất định thắng
Lô cốt mấy tầng
đè nát vai
Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng
Hồn vẫn treo trên
Vọng hải đài.
93. Khương Hữu Dựng
Ba lô trên vai từ đêm mười chín
"Một tiếng chim kêu sáng cả rừng"
Thì cứ khắc đi rồi khắc đến
Sao còn ngồi đấy cụ già Khương?
94. Bùi Minh Quốc
Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc
Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ
Lại xung phong vào Nam đánh giặc
Với bà cụ đào hầm đầu bạc phơ phơ
Hoà bình rồi tiến lên đổi mới
Bất ngờ ngã ngựa chốn non cao
Dẫu thân thể mang đày thương tích
Thì cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao1
95. Ý Nhi
Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng.
96. Yến Lan
Ra đi từ bến My Lăng
Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng
Tuổi già về lại bến sông
Trăng xưa đã lớn, phải chong đèn dầu
97. Phan Thị Thanh Nhàn
Dấu một chòm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.
98. Trần Đăng Khoa
Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát
Hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
"Biển một bên và em một bên".
99. Hoàng Lại Giang
Người đàn bà một thời tôi ao ước
Trên vành đai Mỹ những năm xưa
Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức
Nhưng còn đây tàn lụi đến bao giờ?
100. Xuân Sách (Tự hoạ)
Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa sởn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cụm đường rách tả tơi.

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

đầu năm quý tỵ




ta veà doïn deïp laïi manh vöôøn
ñaø baáy nieân tröôøng gai coû vöông
moäng ñôøi hoang vieãn nhöø ñoâi caùnh
thaân yù phoâ phaøm quyeän gioït thöông
thieân luaân rôøn rôïn taàng cao thaüm
nhaân lyù raønh raønh cuoäc nhieãu nhöông
ta veà cho kòp muøa ñoâng chöôùng
kheâu daäy choài non giaác mieân tröôøng.


Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

lựng khựng


mây bay hờ hững

nước trôi lừng lững

đầu óc tưng tưng

thằng người lững thững...


Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

đám cưới Thu Thảo, con Trương Thái Hòa


đám cưới con Trương Thái Hòa và con Nguyễn Phi Hùng cùng một giờ nên qua bên Hòa trước và xin phép ra sớm, kẹt ghê mà cũng uổng tiền thiệp ghê.




 anh Lý A3. Có mình ảnh trong nhóm THVT 68-75 ở lại đám cưới này. Trong mấy tấm hình này, anh Lý có những động tác "moi ký ức" để cố nhận diện bạn cũ.
















anh Thái Hòa gởi tui mấy cái thiệp, có cái thiệp của anh Lý Xuân Hòa mà tui cứ nhớ là của anh Trinh, không giao cho anh Hòa, nên anh Hòa "khỏe" được một cái thiệp. Thành thật cáo lỗi.






Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

ngồi buồn...



"ngồi buồn mà trách ông xanh
khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười
                                             ..."

Nguyễn Công Trứ (?)



Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Vua Hùng Vương




VUA HÙNG LÀ ÔNG TỔ CỦA 1 TRONG 54 DÂN TỘC HAY CỦA CẢ 54 DÂN TỘC Ở VIỆT NAM?

Lại Nguyên Ân

Mỗi năm, cứ gần tới ngày giỗ tổ Hùng Vương, nghe đài báo rầm rộ đưa tin các nơi chuẩn bị hành hương về đền Hùng, trong tôi cứ lớn dần một câu hỏi muốn cật vấn những người hiểu biết: Vua Hùng là ông tổ của 1 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam hay là của toàn thể 54 dân tộc ở Việt Nam?

Tôi tin rằng, với những bộ óc bình thường, với sự hiểu biết bình thường, người ta đều có thể trả lời: vua Hùng chỉ được coi là ông tổ của một dân tộc Kinh (= Việt) thôi; dân Kinh (Việt) chỉ là 1 trong 54 dân tộc ở ViệtNam. Vậy 53 dân tộc còn lại đều có ông tổ riêng của mình, chứ không phải vua Hùng.

Chuyện “ông tổ” nói ở đây, tất nhiên là chuyện của truyền thuyết. Người ta không đòi hỏi truyền thuyết phải là sự thật. Trong cộng đồng dân tộc có truyền tụng một thuyết về một ông tổ chung thì người ta thờ chung ông tổ ấy, không đòi hỏi chứng minh bằng chứng cứ lịch sử (có đòi cũng không ai chứng minh được!). Mà dân tộc nào không có thứ truyền thuyết tương tự, thì như thế không có nghĩa dân tộc ấy không có một nguồn cội chung của họ.

Nhưng vấn đề là có “dân tộc” theo nghĩa sắc tộc, tộc người (như người Kinh, người Mường, người Thái, người Tày, v.v.) và “dân tộc” theo nghĩa là dân cùng một quốc gia (theo nghĩa này ta nói: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, v.v.).

Từ “dân tộc” khá dễ dàng bị lái hàm nghĩa, nhất là khi người ta cố ý.

Chẳng hạn, khi người ta gọi lễ giỗ tổ Hùng Vương là quốc lễ (như có người gọi “quốc giỗ” – một từ ngữ pha tạp rất khó lọt tai!), người ta đã ngầm coi vua Hùng như ông tổ của dân tộc theo nghĩa dân cùng một quốc gia. Điều này, trên thực tế, đã biến vua Hùng trở thành ông tổ chung của toàn bộ 54 dân tộc (= sắc tộc, tộc người) hiện sinh sống trên đất ViệtNam. Đó là một sai lầm cố ý, một trò lái hàm nghĩa, một sự lạm dụng.

Cần nói rõ: mọi người dân của 54 dân tộc sống trên đất ViệtNamđều mang quốc tịch ViệtNam, nhưng chỉ những ai là người của dân tộc Kinh (Việt) mới coi vua Hùng là ông tổ. Còn những người thuộc các dân tộc khác, tuy họ đều có quốc tịch ViệtNam, nhưng họ không phải là con cháu vua Hùng. Họ không cần về Đền Hùng lễ tổ mỗi dịp ngày mồng mười tháng ba hàng năm. Dư luận nên nói rõ sự thực này chứ đừng lạm dụng hàm nghĩa dân tộc để tập trung tất cả mọi dân tộc còn lại trên đất Việt, buộc họ hướng về Đền Hùng, buộc họ coi vua Hùng là ông tổ! Làm như thế tức là buộc họ phải coi tổ người Kinh như tổ dân tộc mình, phải theo lệ tục người Kinh, tức là đồng hóa họ vào cộng đồng người Kinh; đó chính là xem thường họ, xúc phạm họ.

Tôi biết, có người cho rằng dùng cách mù mờ từ chỗ nói vua Hùng là ông tổ dân Kinh (Việt) rồi dần dà biến vua Hùng thành ông tổ dân tộc, rồi lái nghĩa dân tộc từ sắc tộc sang hàm nghĩa dân cùng quốc gia! Ấy là cách xây dựng tâm thế cộng đồng dân tộc!

Tôi phản đối cách xây dựng tinh thần dân tộc theo lối lạm dụng, lợi dụng, bất minh ấy.

Phải từ chỗ tôn trọng bản sắc riêng, nguồn cội riêng mỗi dân tộc (= sắc dân) cùng sinh tồn trên đất Việt hiện tại để xây dựng ý thức cộng đồng.

Ta nên chú ý 2 hiện tượng trái chiều: trong khi ở những nước có rất ít sắc tộc, ví dụ nước Đức, người ta đã tận dụng hiện tượng mới của thế giới hiện đại là hiện tượng nhập cư, nhân việc có thêm những sắc dân khác đến xứ mình sống chung trong cộng đồng để xây dựng xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa; thì ở Việt Nam, có xu hướng ngược lại, ta đang dùng cách mở rộng các thần tượng của một dân tộc đa số (dân tộc Kinh) ra thành thần tượng cho các dân tộc thiểu số khác cùng sống trên đất Việt. Cái dụng ý biến lễ giỗ vua Hùng từ giỗ tổ của người Kinh thành quốc lễ của mọi người dân có quốc tịch Việt là ví dụ rất rõ! Đây hiển nhiên là sự áp đặt văn hóa nghi lễ của tộc người đa số cho các tộc người còn lại.

Điều không ngạc nhiên là một số khá đông công chúng tán thưởng “chiến lược” này. Điều ngạc nhiên là không ít chuyên gia am hiểu, không ít quan chức, không ít nhà khoa học, thậm chí nhà sử học hàng đầu, lại tán thưởng, thậm chí góp sức luận chứng cho cách làm này, – cách làm mà trên thực tế, nó chính là một thứ sô-vanh văn hóa (cultural chauvinism).

Tôi cho rằng những người hiểu biết không nên ủng hộ thứ sô-vanh văn hóa này.

03/12/2012
LẠI NGUYÊN ÂN


 Trao đổi với Lại Nguyên Ân về Giỗ tổ Hùng Vương và Sovanh
12/05/2012 11:41:00 CH  SÔNG HÀN  36 COMMENTS

Trên boxit.vn, BBC tiếng Việt cùng nhiều trang mạng khác vừa đăng bài của Lại Nguyên Ân nhan đề: Vua Hùng là ông tổ của ai?


Nội dung bài viết cho rằng Vua Hùng chỉ là tổ tiên của người Kinh (tức người Việt) và do vậy không thể bắt ép 54 dân tộc trên toàn lãnh thổ Việt Nam phải tôn Hùng Vương làm tổ tiên bởi như thế là Sovanh chủ nghĩa: "Cần nói rõ: mọi người dân của 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam đều mang quốc tịch Việt Nam, nhưng chỉ những ai là người của dân tộc Kinh (Việt) mới coi vua Hùng là ông tổ. Còn những người thuộc các dân tộc khác, tuy họ đều có quốc tịch Việt Nam, nhưng họ không phải là con cháu vua Hùng. Họ không cần về Đền Hùng lễ tổ mỗi dịp ngày mồng mười tháng ba hàng năm...".

Xung quanh vấn đề này, Sông Hàn có mấy lời trao đổi lại để rõ hơn về ngọn nguồn.

Văn Lang là gì?

Khởi đầu bài viết của mình, ông Lại Nguyên Ân cho rằng: "Tôi tin rằng, với những bộ óc bình thường, với sự hiểu biết bình thường, người ta đều có thể trả lời: vua Hùng chỉ được coi là ông tổ của một dân tộc Kinh (= Việt) thôi; dân Kinh (Việt) chỉ là 1 trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Vậy 53 dân tộc còn lại đều có ông tổ riêng của mình, chứ không phải vua Hùng".

Xin thưa bàn về lịch sử, bàn về văn hóa nhưng kiến thức Lịch sử văn hóa của ông đã sai lạc nghiêm trọng. Ông sử dụng sự ràng buộc của câu chữ để trói độc giả, khẳng định mệnh đề mình đưa ra là đúng. Tức là ông đã bất bình thường khi nói về "những bộ óc bình thường, sự hiểu biết bình thường..."

Nói về Hùng Vương, không thể không nói về nhà nước Văn lang mà Hùng Vương (thứ I) được cho là người khai sáng cũng như các dân tộc đã làm nên nhà nước (quốc gia) này. Về Văn lang, ta có hai giả thuyết:

1. Văn Lang hẹp (giả thuyết chính thống, được dạy trong sách giáo khoa lịch sử hiện thời) tức là Văn Lang mà lãnh thổ chủ yếu gói trong Trung du và Châu thổ sông Hồng một phần Thanh, Nghệ.

2. Văn lang rộng: Tức là miền Nam sông Trường Giang với tiền thân là Xích Quỷ Quốc được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư- kỷ Hồng Bàng.

Hán sử chép: nam sông Trường giang là đất đai của người Việt tức là Bách Việt mà chúng ta vẫn thường biết đến.

Bách Việt gồm trăm tộc Việt (phi Hán) cùng sinh sống trên khắp đất Nam sông Trường Giang (Trung Quốc ngày nay) cho đến hết đất Bắc Bộ và một phần Bắc Trung Bộ. Tày, Nùng (Choang tộc - Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc), hay Việt (Kinh),  Thái, ... (ngoại trừ đi H'mông) đều ở trong cộng đồng Bách Việt ấy cả. Trăm tộc Việt này đi thuyền đánh cá, trồng lúa nước và đúc trống đồng và kiến tạo nên những giá trị văn hóa, văn minh, mà đến giờ con cháu vẫn kế thừa. .

Dù theo bất cứ thuyết nào thì Văn lang vẫn là vương quốc độc lập đầu tiên của người Việt, vương quốc của Bách Việt mấy ngàn năm về trước. Kinh, Thái, Nùng, Tày .... ngày nay đều là những mảnh vỡ của Văn Lang khi xưa, những gì còn lại của Trăm tộc Việt phi Hán khi xưa.

Hẳn ông Lại Nguyên Ân phải thấy rất những nét tương đồng về văn hóa giữa người Kinh với nhiều cộng đồng dân tộc cứ trú ở phía Bắc. Tại vì sao lại thế? Vì chúng ta chung một cội, chung một cách ứng xử với tự nhiên. Và từ hàng ngàn năm nay, những dân tộc này đang chung một quốc gia, chung một vận mệnh.

Giỗ tổ tôn vinh ai?
Lại Nguyên Ân cho rằng: "mọi người dân của 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam đều mang quốc tịch Việt Nam, nhưng chỉ những ai là người của dân tộc Kinh (Việt) mới coi vua Hùng là ông tổ. Còn những người thuộc các dân tộc khác, tuy họ đều có quốc tịch Việt Nam, nhưng họ không phải là con cháu vua Hùng" (Vua Hùng là ông tổ của ai?). Từ lập luận này, ông Ân đi đến kết luận: Họ không cần thiết phải đến lễ hội đền Hùng.

Xin thưa với ông Lại Nguyên Ân rằng Hùng Vương cũng không phải là tổ tiên (tức là  lấy vợ sinh con rồi đẻ ra người Việt - hay Kinh) như lời ông nói. Truyền thuyết và còn ghi lại việc Lạc Long Quân (cha của Hùng Vương I) đánh thủy quái, diệt cáo chín đuôi cứu vớt người dân. Hùng vương khuyên người dân săm người để chống thuồng luồng... Là quá đủ thưa ông?

Tôi thật không hiểu kiến thực lịch sử và văn hóa của ông ở đâu nữa!

Không ai bắt buộc những người Ba Na, Ê Đê, Mơ Nông (trên đât Tây Nguyên), hay người Chăm, người Khơ Me, người Hoa phải tôn xưng Hùng Vương là tổ tiên của dân tộc họ cả. Lễ giổ tổ mồng 10 tháng 3 hàng năm là để người dân Việt Nam nhớ về người đã gắn kết được trăm tộc Việt, tạo dựng nhà nước đầu tiên.

Mà nhà nước đó, Việt Nam ngày nay (với tư cách là một quốc gia) đang kế thừa! Nhiều cư dân (sắc tộc) sinh sống ở phía Bắc Việt Nam đang là những gì còn sót lại của Bách Việt khi xưa, được gắn kết bởi cùng chung một bối cảnh sống, lịch sử và vận mệnh!

Việc tôn xưng người đầu tiên xây dựng lên nhà nước của trăm tộc Việt có gì là sai? Người Việt Nam nhớ về người đầu tiên lập ra quốc gia của mình, hướng về đó có gì là sai? Ông đừng lập lờ đánh lận khái niệm Quốc tổ - người khai sinh ra quốc gia đầu tiên với Tổ tiên của từng dân tộc - hiểu theo nghĩa đơn thuần.

Đơn giản đây không phải là lễ hội tôn vinh hoặc tìm kiếm sự một ông tổ của từng sắc tộc như lời ông nói. Giỗ tổ 10/3 dù cho có bị chính trị hóa (theo lời của BBC), thì hẳn đó cũng là chính trị hóa rất đẹp. Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận không ít những lễ hội, câu chuyện được như vậy, bản thân chính quyền Việt Nam Cộng hòa khi xưa cũng không từng chối bỏ ngày Giỗ tổ.

Lễ hội và so vanh chủ nghĩa

Lễ hội Ponagar
Khi mở cõi vào phương Nam người Việt đã tiếp nhận, biến đổi rất nhiều những yếu tố văn hóa của cư dân bản địa. Nhiều vị thần của người Chăm đã trở thành vị thần của người Việt. Cứ như ông Lại Nguyên Ân nói thì việc gì người Việt phải đi thờ nữ thần Ponagar? Có dây mơ rễ má, có cội nguồn gì, chịu ơn gì đâu?

Lễ hội Làng hàng năm (có thể) là lễ hội tôn vinh thành hoàng Làng (tức là vị có công với Làng, hay người đầu tiên lập Làng). Lễ hội đó hoàn toàn cho phép những người mới nhập cư cùng tham gia, cũng như rộng cửa đón khách thập phương. Cứ theo như lý luận của ông Ân thì lễ hội Làng cần gì phải đón khách bên ngoài. Người bên ngoài có dây mơ rễ má gì với Làng, chịu ơn gì Thành Hoàng, thế thì đến để làm gì?

Người Trung Quốc ở phía Nam Trường Giang nhiều nơi còn thờ Nhị Trưng, nhiều nơi có đền thờ Lý Thường Kiệt. Họ có dây mơ rễ má gì, họ chịu ơn gì những nhân vật của nước Nam mà thờ? Cứ như ông Ân nói thì dân Trung Quốc nên dẹp hết mấy cái đền thờ ấy đi, bỏ hoang hóa cho  nhanh.

Sovanh chủ nghĩa không nằm ở việc tôn vinh Hùng Vương như người khai sáng quốc gia đầu tiên của người Việt (mà Việt Nam ngày nay là kẻ kế thừa cả về những giá trị văn hóa, lịch sử và dân tộc tính). Sovanh chủ nghĩa chính là nằm ở việc chúng ta đối xử thế nào, trọng thị ra sao đối với văn hóa (bao gồm cả tín ngưỡng, phong tục  tập quán) của các cộng đồng dân tộc.







Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Virus



PHÒNG BỆNH HƠN CHỬA BỆNH
HkThành
SI VIS PACEM, PARA BELLUM

chớ mở POST CARD hallmark.! Virus cực kỳ ác ôn
VUI LÒNG CHUYỂN TIẾP CẢNH BÁO NÀY GIỮA CÁC GIA ĐÌNH, BẠN BÈ VÀ NGƯỜI LIÊN HỆ!
Bạn nên cảnh giác trong những ngày tiếp theo. Không mở bất kỳ thông báo với một tập tin đính kèm
quyền BƯU THIẾP * FROM * HALLMARK, bất kể người gửi nó cho bạn.
Đó là một virus sẽ mở ra * cho hình ảnh BƯU THIẾP, * 'đốt cháy' toàn bộ đĩa cứng C của máy tính của bạn.
Vi rút này sẽ được nhận được từ một người có địa chỉ e-mail của bạn vào danh sách liên lạc trong anh / cô.
Đây là lý do bạn cần phải gửi e-mail cho tất cả các địa chỉ liên lạc của bạn. Nó là tốt hơn để nhận được thông báo
25 lần hơn để nhận được virus và mở nó.
Nếu bạn nhận được một email tựa đề * "BƯU THIẾP," * mặc dù nó đã được gửi đến cho bạn bởi một người bạn,
không mở nó! Shut down máy tính của bạn ngay lập tức.
Đây là loại virus tồi tệ nhất do CNN công bố.
Nó đã được phân loại theo Microsoft là virus phá hoại nhất từ trước đến nay.
Loại virus này được phát hiện bởi McAfee hôm qua, và không có sửa chữa nào cho loại Virus.
Virus này chỉ đơn giản là phá hủy Sector Zero của đĩa cứng, nơi mà các thông tin quan trọng được lưu giữ.
COPY  E-MAIL NÀY VÀ GỬI CHO BẠN BÈ.
fgfgg
Too late to know now, this has already happened to me, it has burnt one of my computers, I did open one of my 3 other computers,  just found out that "nothing left behind...all of my documents , pictures etc saved .... all gone with the wind. I do not know how to restore them.. anyone of you guy know how to restore the data loaded in my computer previously ?, I really want them back to me , especially my pictures since I only saved them in this computer, I did not save them in my other 2 computers, that is my big problem now.. Any idea ? pls let me know and help ..Thanks.
LLC.
PLEASE FORWARD THIS WARNING AMONG FRIENDS, FAMILY AND CONTACTS!
   You should be alert during the next few days. Do not open any message with an attachment entitled *POSTCARD FROM HALLMARK *, regardless of who sent it to you.
   It is a virus which opens *A POSTCARD IMAGE, *which 'burns' the whole hard disc C of your computer.
   This virus will be received from someone who has your e -mail address in his/her contact list.
This is the reason you need to send this e -mail to all your contacts. It is better to receive this message 25 times than to receive the virus and open it.
If you receive an email entitled *"POSTCARD," *even though it was sent to you by a friend, do not open it! Shut down your computer immediately.
This is the worst virus announced by CNN.
  It has been classified by Microsoft as the most destructive virus ever.
  This virus was discovered by McAfee yesterday, and there is no repair yet for this kind of Virus. This virus simply destroys the Zero Sector of the Hard Disc, where the vital information is kept.
   COPY THIS E-MAIL AND SEND IT TO YOUR FRIENDS.


CÔ Y TÁ TRẺ VÀ ÔNG BÁC SĨ GIÀ




Trong một ca phẫu thuật, cô ý tá trẻ tuổi lần đầu tiên được tham gia ca mổ đã nói với bác sĩ phẫu thuật khi ông đang chuẩn bị khâu vết mổ lại:"Bác sĩ, chúng ta còn một miếng gạc chưa lấy ra khỏi bệnh nhân".

Ông bác sĩ, khá lớn tuổi,  nói một cách quyết đoán:" Tôi đã lấy hết toàn bộ số gạc ra rồi. Chúng ta bắt đầu khâu vết mổ lại!".
Cô gái vẫn cương quyết:" Không được! Chúng ta đã dùng hết mười hai miếng gạc, trong khi mới lấy ra mười một miếng".

Bác sĩ nghiêm khắc nói với cô:" Tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm! Khâu vết mổ lại!"
Cô lập tức kêu lớn lên:" Bác sĩ không được làm như vậy! Ông phải có trách nhiệm với bệnh nhân chứ!"
Bác sĩ lúc này mới mỉm cười, ông mở bàn tay mình ra với miếng gạc thứ mười hai đang nằm ở đó, rồi nói:"Cô đã chính thức trở thành phụ tá phẫu thuật của tôi rồi đó".
Ông đã thử thách sự chân chính của cô y tá trẻ, và cô đã có được điều ấy.
Kinh Thánh đã nói:" Hãy là đứa con trong sạch của Chúa Trời. Điều này sẽ giúp các con không bị chỉ trích và luôn thành thật trong thời đại phức tạp này".
Thật vậy, trong cuộc sống, cũng còn biết bao người đang sống "mũ ni che tai" cho yên phận, mà không đủ dũng cảm như cô y tá trẻ tuổi kia, để có thể kiên trì với bản thân, để có thể làm việc trong danh dự, để có thể dám mạo hiểm trước các thách thức của cuộc sống và đủ bất khuất để theo đuổi các mục tiêu của mình.

(lượm lặt)